22/12/2012- In the early of December 2012, "Admiralty Shipyards" has started testing submarine "Varshavyanka" of 06.361 project on sea, said the Russian Central Navy Portal that cited from the enterprise. Sources of portal did not clear about the customer who ordered the ship. According to unconfirmed news, customer set for submarine named "Hanoi" in honor of the capital of Vietnam. expected that the ship will be delivered to customer in August 2013.
At the time of sea trials, the submarine will berth at the Light Port near Kaliningrad. This submarine is first in the export version of the 06.361 project, new machinery and equipment modernization. In particular, according to the portal of the Navy, the ship has a new system to ensure the lives of crew members. Such a system has been previously tested successfully on the submarine "Saint Petersburg" 677 Lada projiect.
VOR
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012
Video: Mỹ thử vũ khí laser phá hủy tên lửa Đông Phong của TQ chỉ trong 3 giây
20/12/2012- Vào ngày 10 tháng Mười Hai năm 2012, Lockheed Martin đã thử nghiệm thành công một loại vũ khí laser cỡ nhỏ ADAM (Area Defense Anti-Munitions) để tiêu diệt một tên lửa cách nơi bắn tia laser 1,6 km. Theo báo cáo, một chiếu xạ tia laser năng lượng cao bắn trúng và phá hủy một tên lửa đang bay chỉ trong 3 giây. Truyền thông Trung Quốc cho rằng vụ thử này nhắm đến tên lửa Đông Phong của Trung Quốc.
Thách thức đối với Trung Quốc: Chiến tranh hay hòa bình ?
20/12/2012- TTXVN (Hồng Công 14/12)- Theo báo mạng Asia Times Online, không có gì là bí mật khi biết rằng vấn đề chính đối với Đại hội 18 Đảng Cộng sản Trung Quốc (vừa mới kết thúc) là cải cách chính trị, như các nhà lãnh đạo sắp mãn nhiệm là Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã nhiều lần nhắc đến trong những tháng gần đây.
Chuyển tiếp chính trị tại Trung Quốc vô cùng quan trọng đối với thế giới. Sự liên quan quan trọng của toàn bộ vụ bê bối Bạc Hy Lai cũng là về cải cách chính trị. Trong một hệ thống chính trị cởi mở hơn, một người như Bạc Hy Lai, một Bí thư Thành ủy bị “ngã ngựa” tại Trùng Khánh, có thể bị ngăn chặn từ lâu trước khi có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, hoặc ông ta có thể thay đổi con đường của mình để vươn đến vị trí cao nhất với đầy đủ tính pháp lý.
Nhưng cải cách chính trị không phải là một vấn đề nội bộ Trung Quốc đơn thuần. Vì Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế số hai thế giới và tiếp tục đà tăng trưởng nhanh, vấn đề không chỉ là sự hội nhập toàn diện của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới mà còn là sự hội nhập toàn diện vào hệ thống chính trị toàn cầu.
Sự hòa hợp của hệ thống chính trị Trung Quốc với phần còn lại của thế giới có vai trò tối quan trọng để thúc đẩy hòa nhập kinh tế và duy trì hòa bình. Việc được điều hành bởi các hệ thống chính trị tương đồng không bảo đảm cho hòa bình và sự hòa nhập chính trị. Đã có vài minh chứng lịch sử về chiến tranh giữa các nền dân chủ hay chiến tranh giữa các hệ thống chính quyền độc đoán. Sự khác biệt trong hệ thống chính trị là nguyên nhân của những ngờ vực và hiểu lầm và càng dễ dẫn đến xung đột, rạn nứt kinh tế và chiến tranh.
Tất nhiên, có nhiều điều thế giới có thể học từ Trung Quốc (chẳng hạn như chế độ đãi ngộ nhân tài, kỹ năng tổ chức), nhưng do thế giới đã bị lấn át và điều hành trong 300 năm qua bởi các nguyên tắc và quan điểm của phương Tây, vì vậy rất khó có khả năng trong vòng 30 năm tới thế giới đó sẽ chấp nhận các nguyên tắc thuần Trung Quốc.
Nếu như Trung Quốc trong giai đoạn này luôn muốn có được sức mạnh quân sự và chính trị lớn và cố gắng áp đặt nguyên tắc của mình lên thế giới, thì thế giới sẽ dễ dàng hợp lại cùng nhau để chống Trung Quốc và vì vậy sẽ chèn ép Trung Quốc và tham vọng của nước này.
Vì vậy, sự hòa hợp của Trung Quốc và thế giới phải xảy ra phần lớn theo nguyên tắc của phương Tây. Nhưng dân chủ không chỉ là một vài quy định về việc làm thế nào để giành phiếu. Nó là về các hệ thống phức tạp và nền văn hóa được thể hiện và củng cố cho những hệ thống này.
Trung Quốc bị chi phối mạnh mẽ bởi sự pha trộn đặc biệt giữa chế độ phong kiến cũ với cấu trúc và văn hóa XHCN. Rất khó để thay đổi cấu trúc này hay thậm chí thay đổi chúng mà không gây ra nguy cơ đối đầu với những nhóm lợi ích bất di bất dịch – và những mối đe dọa gây ra sự sụp đổ của cấu trúc này cũng như những lợi ích của chúng có thể tạo nên một sự kháng cự bằng vũ trang chống lại sự thay đổi.
Trong 30 năm qua, Ngân hàng Thế giới (WB) đã trợ giúp sự tăng trưởng và chuyển đổi của nền kinh tế Trung Quốc. Nhưng trong một vấn đề khó khăn và nhạy cảm hơn nhiều đối với cả Trung Quốc và thế giới – cải cách chính trị, Trung Quốc không nhận được sự hỗ trợ từ bất kỳ ai. Bắc Kinh cần sự hỗ trợ để bảo đảm rằng sự thay đổi chính trị trong nước sẽ giúp nước này hội nhập với thế giới và sẽ không bị tách ra làm hai phần. Vì vậy, đó là một vấn đề của sự cai trị trên toàn cầu, xét trên khía cạnh hòa bình và nền kinh tế toàn cầu.
Hơn thế nữa, hòa nhập chính trị cũng là cơ sở cho hội nhập kinh tế. Không có chính trị, kinh tế không thể một mình mang lại thống nhất và hòa bình, như châu Âu đã cho thấy trong những tháng gần đây. Cuộc khủng hoảng vẫn còn đang tiếp diễn tại châu Âu đã chứng minh rằng liên minh tiền tệ mà không có liên minh chính trị cuối cùng sẽ tạo ra một con quỷ.
Thậm chí, trong một môi trường ổn định và hòa bình, như tại châu Âu hiện nay, được định hình trong hàng thập kỷ bởi sự hợp tác chặt chẽ ở mọi cấp độ, trong đó có cả quân sự và chiến lược, sự thống nhất tiền tệ không có nền tảng tài khóa thống nhất (điều thực sự là cơ sở của thống nhất chính trị) sẽ không ngăn chặn được các thảm họa.
Thêm vào đó, trong thời gian khủng hoảng nghiêm trọng, không rõ liệu một liên minh tiền tệ không có sự thống nhất chính trị có giúp ích được không. Nhiều người tại Đức, Italia, Phần Lan, Tây Ban Nha và Hy Lạp tranh luận rằng nền kinh tế của họ sẽ tốt hơn nếu không có đồng euro.
Nếu sự thiếu thống nhất chính trị tạo ra những vấn đề lớn tại một nơi như châu Âu, nơi đã có sự hợp tác chặt chẽ ở mọi cấp độ trong hàng thế kỷ, chỉ có thể hình dung rằng sự thiếu hòa hợp chính trị có thể tạo được ra trong một môi trường như tại Trung Quốc trong quan hệ với phần còn lại của thế giới, Ở đây, chúng ta thấy rằng giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới không có sự hợp tác quân sự và chiến lược chặt chẽ, có một sự khác biệt văn hóa lớn và tranh chấp lãnh thổ, sự ngờ vực sâu sắc, và sự trao đổi với phần còn lại của thế giới dựa trên hợp tác kinh tế mang lại lợi ích ngắn hạn (chẳng hạn việc sản xuất tại Trung Quốc hay mua các hàng hóa Trung Quốc là vì chi phí sản xuất tại đây thấp). Trong trường hợp chi phí sản xuất của Trung Quốc tăng và không song hành cùng tăng chất lượng, hàng hóa của Trung Quốc sẽ mất lợi thế và thị trường nội địa Trung Quốc sẽ không thể giành được sự quan tâm thích đáng từ nước ngoài – và khi đó Trung Quốc có thê bị cô lập và dẫn đến bị tấn công.
Tất nhiên, đồng euro là một nhân tố chính cho tăng trưởng và hòa bình tại châu Âu, nhưng nó tồn tại hai vấn đề: đồng euro không hòa hợp được các hệ thống tài khóa tại châu Âu, và vấn đề này hợp cùng với sự bất ổn định giá trị khi so sánh với USD (đồng tiền tiêu chuẩn kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai) và với đồng tiền có vai trò quốc tế sau đó, đồng nhân dân tệ. Các yếu tố này đã góp phần tạo ra sự bất ổn trong các hệ thống chính trị xã hội toàn cầu.
Tại một hội nghị trong tháng 11 ở Bắc Kinh, chuyên gia Robert Mundell đã ám chỉ rằng việc thiếu một đồng tiền toàn cầu sẽ gây ra các vấn đề lớn, gồm: Thiếu một đơn vị thanh toán quốc tế, thiếu một cơ sở cho sự ổn định tiền tệ, sự biến động bất định của tỷ giá hối đoái các đồng tiền chủ chốt, biến động lớn về giá các nguyên liệu thô, mức cần thiết của lượng dự trữ quốc tế”.
Điều này phù hợp với 3 điểm lo ngại về kinh tế toàn cầu trong suốt Hội nghị G20 năm 2010 tại Pari: “1. Sự mất ổn định quá mức của giá các nguyên liệu thô. 2. Sự mất ổn định quá mức của tỷ giá hối đoái. 3. Các hệ thống quản lý yếu kém”.
Sự cần thiết của hòa hợp chính trị Trung Quốc với thế giới không phải là một nhân tố bên ngoài. Mô hình của sự hợp pháp hóa quyền lực tại Trung Quốc đơn giản là các vấn đề sau trong các thế kỷ đã qua: một nhóm người với vai trò lãnh đạo thuyết phục có thể dẫn dắt một cuộc cách mạng hay xâm lược thành công có thể lật đổ triều đại đương đại và thành lập một triều đại mới.
Người cai trị hiện tại gánh vác một nửa trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình tại quốc gia này và phúc lợi của người dân cho tới một cuộc cách mạng mới, sau một hay hai thế kỷ, sẽ lật đổ triều đại của ông ta. Chu kỳ đặc trưng này cũng sẽ dẫn tới sự tái phân bổ đất đai dưới triều đại mới được thành lập và mở rộng diện nộp thuế (khi không ai có sức mạnh để buộc chính quyền chấp nhận rằng một ai đó không phải nộp thuế). Vì vậy, trong thời kỳ sau, có một sự tập trung hóa đất đai và thu hẹp diện nộp thuế, khi mà những địa chủ giàu có và quyền lực, những người tích lũy của cải và bóc lột người khác trên mảnh đất của họ, tập hợp đủ sức mạnh để không phải trả khoản thuế mà họ nợ. Sự tập trung hóa đất đai và thu hẹp diện nộp thuế sẽ khiến nhà nước phải tăng thuế trong khi dân chúng tăng sự chia rẽ giữa những người “có của cải” – các gia đình sở hữu đất với những người’ “không có gì” – những gia đình không có đất đai. Những người giàu có thể càng giàu thêm, những người nghèo lại càng nghèo đi. Tình trạng này sẽ khiến số người nghèo gia tăng, và họ trở nên giận dữ hơn vì vị trí xã hội của họ, và đến lượt nó, theo như quan điểm cổ xưa, có thể gây ra sự chia rẽ giữa người cai trị với sự thần thánh và người dân. Người dân, dưới sự trợ giúp của thần thánh, hoặc ông trời, có thể thể đánh đổ chế độ và lập nên một đứa con mới của trời, một người trị vì mới.
Đó là trong thời kỳ cổ đại, cho đến thời Mao Trạch Đông, người thực sự là người trị vì cuối cùng của Trung Quốc. Sau đó không còn người trị vì nào nữa, mà chỉ có đội ngũ lãnh đạo tập thể của một số nhân vật kỳ cựu xung quanh Đặng Tiểu Bình và các chế độ sau đó của các nhà kỹ trị Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông không dựa vào sự trợ giúp từ thần thánh hay thiên đình, khi ông nổi tiếng là người theo thuyết vô thần, và những người kế vị ông đã cố gắng nhận sự trợ giúp từ người dân. Nhưng khi thiếu đi chỗ dựa từ thần thánh hay từ các cuộc bầu cử hiện đại, sự hỗ trợ này quả là khó có thể đo lường và tin tưởng.
Các chế độ cũ của phương Tây cũng dựa vào Chúa và người dân. Theo những câu nói của người xưa, “Tiếng nói của người dân là tiếng nói của Chúa”, Khi, trong thời kỳ khai sáng, Chúa tách rời khỏi hình ảnh chính trị, các nước phương Tây tìm thấy một nguồn mới về sự thần thánh trong sự sùng bái của sự ủy thác của công chúng đối với việc bầu cử. Những tiếng nói hiện đại cũng có thể là “Tiếng nói của người dân là tiếng nói của Chúa”.
Hiện tại, Trung Quốc không có Chúa và không có sự ủy thác rõ ràng và có thể đo đếm được của một cuộc bầu cử phổ thông. Thực tế là Trung Quốc không có thiên đường và không có người dân. Hơn thế nữa, quan hệ sở hữu, phân phối và tập trung đất đai truyền thống cổ đại – quan hệ đã điều chỉnh và định hướng chu kỳ triều đại trong quá khứ – cũng đã không còn, vì một lý do đơn giản là kinh tế điền địa đã không còn quan trọng tại Trung Quốc.
Trong quá khứ, hơn 90% dân số Trung Quốc sống tại các làng quê, trong khi hiện tại chỉ chưa đến 50% sống tại các khu vực này, và tỷ lệ đang ngày càng giảm. Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế cũng giảm và do vậy chu kỳ thịnh, suy của các triều đại cũng đã kết thúc hoàn toàn. Nếu quyền lực Cộng sản bị lật đổ, nó sẽ không xảy ra với các cuộc nổi dậy của nông dân như trong quá khứ. Điều này khiến cho hệ thống chính trị của Trung Quốc như một quả bóng bay trên không trung: không có ai, không có thiên đường và không có chu kỳ đất đai và không có những mối đe dọa lớn đối với giới cầm quyền – nhưng cũng không có hỗ trợ lớn, không có điểm tựa chính.
Nó có thế được xem là một điểm rất mạnh, nhưng cũng có thể xem là một điểm cực kỳ yếu kém, với nền tảng rất nhỏ. Nền tảng hỗ trợ thực tế duy nhất là cấu trúc của nó: một hệ thống Xôviết lồng ghép với hệ thống phong kiến cũ của Trung Quốc, cấu trúc này tự nuôi sống mình và đất nước. Nó cũng là rào cản chính đối với quá trình cải cách và những thành tựu khác của đất nước. Cải cách cấu trúc nhà nước này là cực kỳ khó, bởi nó dựa trên và ăn sâu vào văn hóa đã trải rộng trên toàn đất nước.
Nhưng Trung Quốc cần cải cách để tiến lên và thế giới cần Trung Quốc cải cách cấu trúc để làm cho hệ thống chính trị của Trung Quốc hòa hợp với thế giới. Hòa hợp chính trị có thể tạo chỗ dựa cho kinh tế toàn cầu và thúc đẩy kinh tế toàn cầu tiến lên một bước mạnh hơn. Nó cũng có thể giúp kiểm soát giá nguyên liệu thô, giúp đổi mới công nghệ và kiểm soát khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Một thỏa thuận về tỷ giá đồng USD – nhân dân tệ có thể là dễ dàng bởi vì chỉ cần sự tham gia của hai chính quyền trung ương trong khi có thể kiểm soát 35% kinh tế toàn cầu và có thể là một nửa tăng trưởng toàn cầu. Nó cũng có thể dễ dàng hơn bởi sự ràng buộc kéo dài giữa hai đồng tiền. Nhưng để đạt được thỏa thuận này trước hết cần có một sự hòa hợp chính trị.
Một thỏa thuận về tỷ giá đồng USD – euro có thể sẽ khó khăn hơn bởi các hệ thống không chỉ bao gồm hai thực thể chính trị có thể đối thoại song phương. Đằng sau ban lãnh đạo “ảo” tại Brúcxen, có những tiếng nói không hòa hợp tại châu Âu, mỗi tiếng nói có ưu tiên riêng mà sẽ không suy giảm bất chấp nguy cơ khủng hoảng lớn về chính trị, xã hội và kinh tế.
Nhưng nếu một thỏa thuận kinh tế và chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra, châu Âu có thể cũng tham gia, và một lực hấp dẫn tương tự có thể xảy ra với đồng yên Nhật và đồng bảng Anh. Nó cũng có thể giúp ổn định giá nguyên liệu thô như dầu và khí đốt tại Trung Đông và Nga. Nó có thể là cơ sở cho một hệ thống tài chính quốc tế Bretton Woods mới về kinh tế và chính trị. Nó cũng có thể hỗ trợ cho sự hội tụ chiến lược và quân sự. Ấn định tỷ giá hối đoái và hội tụ quân sự chiến lược-chính trị có thể tạo ra một cấp độ mới cho các nhà cải cách và các doanh nhân vươn ra tầm thế giới.
Tuy nhiên, Mỹ và châu Âu cũng có trách nhiệm lớn. Trong khu vực đồng euro và USD, các quốc gia đang bị các núi nợ đè nặng, Tuy nhiên, một sự tái định giá tài sản của các nước này và một bản cân đối mới cho các quốc gia, đề cập đến quyền sở hữu và kêu gọi đầu tư tư nhân vào tài sản nhà nước, có thể thay đổi hình ảnh tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc.
Nhưng mọi thứ xoay quanh Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không bắt đầu tiến trình hòa hợp chính trị với thế giới, tất cả các nước khác sẽ bị kẹt. Và vì vậy, các hệ quả có thể là khắc nghiệt đối với Trung Quốc và tất cả các nước khác.
Đây là một giấc mơ, nhưng cũng có thể có giá trị sau cơn ác mộng – khả năng đối đầu dữ dội với Trung Quốc, vấn đề của Trung Quốc luôn bao gồm hai yếu tố, một yếu tố đại diện bởi nguy cơ đối với bản thân Trung Quốc với tư cách là một thực thể địa chính trị và yếu tố còn lại là do Trung Quốc nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng ta có thế tách riêng hai vấn đề bởi nếu không có Đảng Cộng sản, Trung Quốc với tư cách là một nền dân chủ có thể gây ra một số nguy cơ đối với thế giới. Giả định rằng sự vươn lên của Trung Quốc sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu, nó sẽ làm giảm quyền lực của Mỹ. Chúng ta có thể thấy những lựa chọn khác nhau mà Mỹ có thể dùng để ngăn chặn hay làm chậm sự vươn lên của Trung Quốc, điều có thể gây ra nhiều vấn đề cho Mỹ. Lựa chọn đầu tiên là chiến tranh chống lại Trung Quốc. Mỹ có thể phát động một cuộc chiến lớn chống lại Trung Quốc, Tron2 trường hợp này Mỹ đương nhiên sẽ thắng khi giết được 400 triệu người Trung Quốc, số lượng này lớn gấp 8 lần số người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Gây ra số lượng thương vong quá lớn tại Trung Quốc có thể tạo nên những vết thương về tinh thần và đạo đức lớn tại Mỹ, làm giảm năng lượng của Mỹ trong nhiều thế kỷ, điều có thể khiến Mỹ đi xuống ngay cả khi là kẻ thắng trận. Mặt khác, nếu nhìn vào Trung Quốc, chúng ta sẽ thấy rằng từ năm 1980 đến 2010, chính sách một con tại Trung Quốc đã lấy đi của dân số nước này 400 triệu người. Tức là nếu không có chính sách đó, dân số Trung Quốc hiện có thể đã lên đến 1,8 tỷ người. Vì vậy, nếu Trung Quốc, sau thất bại đẫm máu đó, sẽ bỏ chính sách một con và dân số có thể tăng trở lại lên 1,4 tỷ người trong khoảng 30 năm. Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ cực kỳ giận dữ với Mỹ và sẽ dẫn đến việc trả thù vào một thời điểm nào đó khi mà Mỹ có thể vẫn bị tổn thương về phương diện đạo đức vì đã giết hại 400 triệu người.
Có thể có lựa chọn thứ hai, đó là chia rẽ Trung Quốc thành nhiều nhà nước cạnh tranh của người Trung Quốc. Lựa chọn này có thể xua đi một số căng thẳng trong cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có thể đem lại cho Mỹ lựa chọn chiến đấu với một Trung Quốc nhỏ hơn. Trên thực tế, Trung Quốc có thể bị chia tách thành 4 – 5 nước nhỏ, mỗi nước có dân số ngang bằng Mỹ. Điều đó có nghĩa là mỗi nước Trung Quốc nhỏ cuối cùng có thể trở thành một đối thủ mạnh của các nước kia.
Trên thực tế, chúng ta có thể thấy rằng thế giới, bao gồm nền văn minh Trung Quốc cổ đại, đã bị chia rẽ. Ngoài bản thân Trung Quốc (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), chúng ta có Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và Xinhgapo, tất cả đều là những quốc gia và vùng lãnh thổ rất cạnh tranh. Tuy nhiên, Nhật Bản, quốc gia lớn nhất trong số đó, có dân số chỉ bằng một phần ba so với Mỹ và so với một quốc gia giả định Trung Quốc nhỏ hơn. Trong những năm 1980, Nhật Bản đã gần như vượt qua kinh tế Mỹ và đặt ra một điều khi đó được xem là mối đe dọa chiến lược lớn. Từ đó, chúng ta có thể dự đoán nguy cơ của nhiều nước Trung Quốc trên thế giới. Có nghĩa là, nhiều nước Trung Quốc có thể đặt ra một thách thức lớn hơn, thách thức lớn về kinh tế, đối với Mỹ hơn là một nước Trung Quốc thống nhất.
Lựa chọn thứ ba có thể là một cuộc chiến hủy diệt chống lại Trung Quốc, khi đó 1,4 tỷ người bị thảm sát. Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại ngày nay, điều này là cực kỳ khó xảy ra. Nỗ lực của Hitler nhằm tiêu diệt 10 triệu người Do Thái đã chứng minh đó là điều không thể. Trên thực tế, nỗ lực của Hitler đã giúp tái sinh Nhà nước Do Thái Ixraen sau 2000 năm, và sức mạnh cũng như ảnh hưởng của người Do Thái hiện lớn hơn so với những năm 1930 – thời kỳ xảy ra chiến dịch tiêu diệt người Do Thái của quân phát xít.
Người Trung Quốc đã chứng minh sức tái sinh rất lớn tại nhiều nước Đông Nam Á. Ví dụ, tại Inđônêxia, trong khi chỉ chiếm thiểu số (có thể là nhỏ hơn 5% dân số) hay tại Philippin (khoảng 1% dân số), nhưng họ kiểm soát khoảng 90% nền kinh tế. Diệt vong 1,4 tỷ người Trung Quốc là khó khăn hơn gấp bội so với nỗ lực của Hitler và gần như chắc chắn sẽ kết thúc với thất bại khủng khiếp.
Lựa chọn thứ tư là chiến lược hiện nay của Mỹ, chính sách ngăn chặn/can dự, mang lại kết quả hỗn hợp. Chiến lược ngăn chặn toàn diện mà Mỹ áp đặt chống lại Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh gặp khó khăn vì nền kinh tế Liên Xô rất ít hoặc là không trao đồi với các nền kinh tế tư bản. Trong tình huống đó, các nền kinh tế tư bản có thể gây áp lực lên Liên Xô và khiến nền kinh tế của Liên Xô phải gánh chịu mà bản thân họ không phải chịu tổn hại gì. Kiềm chế Liên Xô trên thực tế có thể mang lại lợi ích cho các nước tư bản.
Ngược lại, hiện nay Trung Quốc hội nhập toàn diện với các nền kinh tế tư bản. Bất kỳ sự kiềm chế thực tế nào đối với Trung Quốc cũng có thể gây tổn hại cho Trung Quốc, nhưng cũng ảnh hưởng xấu đến các nước tư bản. Sự hội nhập kinh tế ở mức độ cao giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới cho thấy có một số lượng ngày càng nhiều người ngoài Trung Quốc có thể bị tác động xấu trong trường hợp có chính sách ngăn chặn, và vì vậy họ sẽ chống lại chính sách này.
Hơn nữa, Trung Quốc có thể dễ dàng chống lại bất kỳ chính sách ngăn chặn nào trên hai mặt trận. Thứ nhất, bằng cách tăng những lợi ích ủng hộ cho Trung Quốc tại Mỹ và các quốc gia khác. Các quốc gia khác có thể bị gây áp lực trong việc lựa chọn quan hệ với Mỹ hay Trung Quốc, và những nước đó có thể tận dụng tình thế khó khăn này để tăng cường thu hút vốn và “bán mình” cho người trả giá cao hơn – hay thậm chí là cho cả hai người trả giá. Vì vậy, thực tế họ có thể được lợi trong cuộc chiến giữa hai cường quốc này.
Chính sách ngăn chặn và ràng buộc này tạo ra một tình thế rất phức tạp xung quanh Trung Quốc với các quốc gia không đứng về phía Trung Quốc nhưng cũng không hoàn toàn đứng về phía Mỹ. Do đó, trong dài hạn, chính sách này tạo ra một tình thế mà trong đó Trung Quốc sẽ không hoàn toàn bị kiềm tỏa và các nước xung quanh Trung Quốc có thể trở thành một thách thức đối với Mỹ.
Cuối cùng, kết quả có thể là: A – Trung Quốc bị kiềm tỏa, nhưng Mỹ phải đối đầu với nhiều nước hung hăng xung quanh Trung Quốc; hoặc B – Trung Quốc không bị kiềm tỏa và bị chọc giận bởi sự cạnh tranh này.
Ngoài ra, có một bầu không khí hoài nghi trên thế giới, nơi mà mọi người cạnh tranh với nhau và vai trò của Mỹ có thể suy giảm. Đó là một tình huống hoàn toàn giống với sự cạnh tranh toàn diện của thời kỳ Chiến Quốc hay của châu Âu với sự suy thoái của Đế chế Habsburg sau Vương triều Philip II và trước sự nổi lên của các siêu cường Pháp và Liên hiệp Anh.
Tất nhiên, có những cách khác mà Mỹ có thể tìm ra chính sách đúng của mình để ngăn chặn/can dự. Tuy nhiên, thực tế là 10 năm thực hiện những chính sách như vậy của Mỹ đã không hiệu quả trong việc kiềm tỏa Trung Quốc. Chính sách đó tạo ra một sự ngờ vực gia tăng giữa hai nước và góp phần vào tăng trưởng của các nước và các nền kinh tế rất hung hăng và cạnh tranh với cả Trung Quốc và Mỹ.
Thực tế là cho dù chính sách ngăn chặn có thành công hoàn toàn, thì Mỹ cũng có thể phải đối đầu với áp lực lớn hơn từ các nước trước đây đã chống lại Trung Quốc, một vài trong số các nước đó có thể thấy rằng, sau khi Trung Quốc thất bại, họ sẽ bắt đầu với chính sách chống Mỹ. Tất nhiên, hoạt động chính trị là đánh bại các kẻ thù vào lúc đó. Tuy nhiên, có thể dễ dàng hơn để tránh việc đối đầu vói một kẻ thù trong khi tạo ra một kẻ thù mới.
Trong bất cứ trường họp nào, Trung Quốc cũng đại diện cho một mối đe dọa ngoài vấn đề về Đảng Cộng sản. Khi nhìn vào phong trào dân tộc chủ nghĩa và phong trào chống Nhật Bản, có người sẽ nghĩ rằng một Trung Quốc dân chủ có thể dễ dàng trở nên hung hăng hơn và chuyển sang chủ nghĩa phát xít. Có lẽ trong trường hợp này, đối vói Mỹ, Đảng Cộng sản lại là hữu ích chứ không phải là một kẻ thù.
Có lẽ, với những phân tích đơn giản và ngắn gọn trên. Oasinhtơn nên nghĩ về các hướng rất khác nhau. Kế hoạch là xây dựng một cục diện Trung-Mỹ mới. Kế hoạch này cũng có thể loại trừ hoàn toàn cuộc chơi bập bênh trên lĩnh vực địa chính trị – và tại Trung Quốc. Nó được hỗ trợ bởi ý tưởng của Trịnh Tất Kiên về xây dựng một cộng đồng có lợi ích chung. Chỉ có thông qua hợp tác giữa hai nước mới bảo đảm cho vai trò chính trị của Mỹ trong thế kỷ này và thế kỷ tiếp theo. Không có nó, bất kỳ giải pháp nào cũng kéo Mỹ cùng với Trung Quốc đi xuống.
Hợp tác với Trung Quốc ở thời điểm hiện tại là quá dễ dàng, trong điều kiện Trung Quốc là một quốc gia phân cấp rõ ràng, nơi mà một đảng lãnh đạo toàn bộ xã hội rộng lớn. Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng lúc đó, đang ở trong một cuộc khủng hoang chính trị nghiêm trọng và hiện tại không có quyết định rõ ràng phải làm gì.
Hơn nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức lo lắng về việc Mỹ có thể lợi dụng khủng hoảng hiện tại để tấn công Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiên cần một giải pháp thoát ra khỏi tình thế khó khăn hiện tại và Mỹ cần một giải pháp để thoát khỏi những thách thức chiến lược hiện tại với Trung Quốc. Mỹ cần năng lượng và sức sống từ Trung Quốc, và với Trung Quốc trên đường chân trời phía Tây, Trung Quốc có thể là giới hạn sau cùng đối với Mỹ, giới hạn đã được hình thành từ Caliphoócnia đến Haoai. Trung Quốc có thể mang lại sự thúc đẩy cần thiết cho Mỹ. Trung Quốc thực sự quan tâm tới việc tiếp cận có hệ thống với Mỹ.
Dù tăng trưởng nhanh, nhưng Trung Quốc có một trở ngại hệ thống: thiếu sự đổi mới, tức là thiếu khả năng sản sinh công nghệ mới và ý tưởng mới về thế giới. Năng lực sáng tạo đến từ Mỹ, tuy nhiên lại thiếu sức sống như của Trung Quốc. Do vậy, có rất nhiều không gian cho sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước này.
Tuy nhiên, có một sự thiếu tin tưởng một cách sâu sắc từ cả hai phía. Sự thiếu tin tưởng này có thể được khắc phục một cách triệt để. Nghĩa là, Mỹ có thể giúp đỡ Trung Quốc trong suốt thời kỳ chuyển giao hiện tại của Trung Quốc, thời kỳ này không làm suy giảm sức mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà làm cho quyền lực của Đảng Cộng sản thêm vững chắc bằng chế độ dân chủ và hiệu quả hơn.
Cùng lúc đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Mỹ có thể có sự tham gia của các nước khác, những nước cảm thấy liên quan hơn là đứng ngoài cuộc. Việc loại trừ các nước đó có thể khiến các nước này chống lại cả Mỹ và Trung Quốc, đồng thời phá hỏng mọi sự tin tưởng mới được tạo ra. Đó có thể là một hành động cân bằng khó khăn, nhưng là khả thi và có thể dễ dàng hơn việc mỗi nước “bán mình” cho cả Trung Quốc và Mỹ./.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Theo Ba Sàm
Chuyển tiếp chính trị tại Trung Quốc vô cùng quan trọng đối với thế giới. Sự liên quan quan trọng của toàn bộ vụ bê bối Bạc Hy Lai cũng là về cải cách chính trị. Trong một hệ thống chính trị cởi mở hơn, một người như Bạc Hy Lai, một Bí thư Thành ủy bị “ngã ngựa” tại Trùng Khánh, có thể bị ngăn chặn từ lâu trước khi có thể gây ra những thiệt hại nghiêm trọng, hoặc ông ta có thể thay đổi con đường của mình để vươn đến vị trí cao nhất với đầy đủ tính pháp lý.
Nhưng cải cách chính trị không phải là một vấn đề nội bộ Trung Quốc đơn thuần. Vì Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế số hai thế giới và tiếp tục đà tăng trưởng nhanh, vấn đề không chỉ là sự hội nhập toàn diện của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới mà còn là sự hội nhập toàn diện vào hệ thống chính trị toàn cầu.
Sự hòa hợp của hệ thống chính trị Trung Quốc với phần còn lại của thế giới có vai trò tối quan trọng để thúc đẩy hòa nhập kinh tế và duy trì hòa bình. Việc được điều hành bởi các hệ thống chính trị tương đồng không bảo đảm cho hòa bình và sự hòa nhập chính trị. Đã có vài minh chứng lịch sử về chiến tranh giữa các nền dân chủ hay chiến tranh giữa các hệ thống chính quyền độc đoán. Sự khác biệt trong hệ thống chính trị là nguyên nhân của những ngờ vực và hiểu lầm và càng dễ dẫn đến xung đột, rạn nứt kinh tế và chiến tranh.
Tất nhiên, có nhiều điều thế giới có thể học từ Trung Quốc (chẳng hạn như chế độ đãi ngộ nhân tài, kỹ năng tổ chức), nhưng do thế giới đã bị lấn át và điều hành trong 300 năm qua bởi các nguyên tắc và quan điểm của phương Tây, vì vậy rất khó có khả năng trong vòng 30 năm tới thế giới đó sẽ chấp nhận các nguyên tắc thuần Trung Quốc.
Nếu như Trung Quốc trong giai đoạn này luôn muốn có được sức mạnh quân sự và chính trị lớn và cố gắng áp đặt nguyên tắc của mình lên thế giới, thì thế giới sẽ dễ dàng hợp lại cùng nhau để chống Trung Quốc và vì vậy sẽ chèn ép Trung Quốc và tham vọng của nước này.
Vì vậy, sự hòa hợp của Trung Quốc và thế giới phải xảy ra phần lớn theo nguyên tắc của phương Tây. Nhưng dân chủ không chỉ là một vài quy định về việc làm thế nào để giành phiếu. Nó là về các hệ thống phức tạp và nền văn hóa được thể hiện và củng cố cho những hệ thống này.
Trung Quốc bị chi phối mạnh mẽ bởi sự pha trộn đặc biệt giữa chế độ phong kiến cũ với cấu trúc và văn hóa XHCN. Rất khó để thay đổi cấu trúc này hay thậm chí thay đổi chúng mà không gây ra nguy cơ đối đầu với những nhóm lợi ích bất di bất dịch – và những mối đe dọa gây ra sự sụp đổ của cấu trúc này cũng như những lợi ích của chúng có thể tạo nên một sự kháng cự bằng vũ trang chống lại sự thay đổi.
Trong 30 năm qua, Ngân hàng Thế giới (WB) đã trợ giúp sự tăng trưởng và chuyển đổi của nền kinh tế Trung Quốc. Nhưng trong một vấn đề khó khăn và nhạy cảm hơn nhiều đối với cả Trung Quốc và thế giới – cải cách chính trị, Trung Quốc không nhận được sự hỗ trợ từ bất kỳ ai. Bắc Kinh cần sự hỗ trợ để bảo đảm rằng sự thay đổi chính trị trong nước sẽ giúp nước này hội nhập với thế giới và sẽ không bị tách ra làm hai phần. Vì vậy, đó là một vấn đề của sự cai trị trên toàn cầu, xét trên khía cạnh hòa bình và nền kinh tế toàn cầu.
Hơn thế nữa, hòa nhập chính trị cũng là cơ sở cho hội nhập kinh tế. Không có chính trị, kinh tế không thể một mình mang lại thống nhất và hòa bình, như châu Âu đã cho thấy trong những tháng gần đây. Cuộc khủng hoảng vẫn còn đang tiếp diễn tại châu Âu đã chứng minh rằng liên minh tiền tệ mà không có liên minh chính trị cuối cùng sẽ tạo ra một con quỷ.
Thậm chí, trong một môi trường ổn định và hòa bình, như tại châu Âu hiện nay, được định hình trong hàng thập kỷ bởi sự hợp tác chặt chẽ ở mọi cấp độ, trong đó có cả quân sự và chiến lược, sự thống nhất tiền tệ không có nền tảng tài khóa thống nhất (điều thực sự là cơ sở của thống nhất chính trị) sẽ không ngăn chặn được các thảm họa.
Thêm vào đó, trong thời gian khủng hoảng nghiêm trọng, không rõ liệu một liên minh tiền tệ không có sự thống nhất chính trị có giúp ích được không. Nhiều người tại Đức, Italia, Phần Lan, Tây Ban Nha và Hy Lạp tranh luận rằng nền kinh tế của họ sẽ tốt hơn nếu không có đồng euro.
Nếu sự thiếu thống nhất chính trị tạo ra những vấn đề lớn tại một nơi như châu Âu, nơi đã có sự hợp tác chặt chẽ ở mọi cấp độ trong hàng thế kỷ, chỉ có thể hình dung rằng sự thiếu hòa hợp chính trị có thể tạo được ra trong một môi trường như tại Trung Quốc trong quan hệ với phần còn lại của thế giới, Ở đây, chúng ta thấy rằng giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới không có sự hợp tác quân sự và chiến lược chặt chẽ, có một sự khác biệt văn hóa lớn và tranh chấp lãnh thổ, sự ngờ vực sâu sắc, và sự trao đổi với phần còn lại của thế giới dựa trên hợp tác kinh tế mang lại lợi ích ngắn hạn (chẳng hạn việc sản xuất tại Trung Quốc hay mua các hàng hóa Trung Quốc là vì chi phí sản xuất tại đây thấp). Trong trường hợp chi phí sản xuất của Trung Quốc tăng và không song hành cùng tăng chất lượng, hàng hóa của Trung Quốc sẽ mất lợi thế và thị trường nội địa Trung Quốc sẽ không thể giành được sự quan tâm thích đáng từ nước ngoài – và khi đó Trung Quốc có thê bị cô lập và dẫn đến bị tấn công.
Tất nhiên, đồng euro là một nhân tố chính cho tăng trưởng và hòa bình tại châu Âu, nhưng nó tồn tại hai vấn đề: đồng euro không hòa hợp được các hệ thống tài khóa tại châu Âu, và vấn đề này hợp cùng với sự bất ổn định giá trị khi so sánh với USD (đồng tiền tiêu chuẩn kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai) và với đồng tiền có vai trò quốc tế sau đó, đồng nhân dân tệ. Các yếu tố này đã góp phần tạo ra sự bất ổn trong các hệ thống chính trị xã hội toàn cầu.
Tại một hội nghị trong tháng 11 ở Bắc Kinh, chuyên gia Robert Mundell đã ám chỉ rằng việc thiếu một đồng tiền toàn cầu sẽ gây ra các vấn đề lớn, gồm: Thiếu một đơn vị thanh toán quốc tế, thiếu một cơ sở cho sự ổn định tiền tệ, sự biến động bất định của tỷ giá hối đoái các đồng tiền chủ chốt, biến động lớn về giá các nguyên liệu thô, mức cần thiết của lượng dự trữ quốc tế”.
Điều này phù hợp với 3 điểm lo ngại về kinh tế toàn cầu trong suốt Hội nghị G20 năm 2010 tại Pari: “1. Sự mất ổn định quá mức của giá các nguyên liệu thô. 2. Sự mất ổn định quá mức của tỷ giá hối đoái. 3. Các hệ thống quản lý yếu kém”.
Sự cần thiết của hòa hợp chính trị Trung Quốc với thế giới không phải là một nhân tố bên ngoài. Mô hình của sự hợp pháp hóa quyền lực tại Trung Quốc đơn giản là các vấn đề sau trong các thế kỷ đã qua: một nhóm người với vai trò lãnh đạo thuyết phục có thể dẫn dắt một cuộc cách mạng hay xâm lược thành công có thể lật đổ triều đại đương đại và thành lập một triều đại mới.
Người cai trị hiện tại gánh vác một nửa trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình tại quốc gia này và phúc lợi của người dân cho tới một cuộc cách mạng mới, sau một hay hai thế kỷ, sẽ lật đổ triều đại của ông ta. Chu kỳ đặc trưng này cũng sẽ dẫn tới sự tái phân bổ đất đai dưới triều đại mới được thành lập và mở rộng diện nộp thuế (khi không ai có sức mạnh để buộc chính quyền chấp nhận rằng một ai đó không phải nộp thuế). Vì vậy, trong thời kỳ sau, có một sự tập trung hóa đất đai và thu hẹp diện nộp thuế, khi mà những địa chủ giàu có và quyền lực, những người tích lũy của cải và bóc lột người khác trên mảnh đất của họ, tập hợp đủ sức mạnh để không phải trả khoản thuế mà họ nợ. Sự tập trung hóa đất đai và thu hẹp diện nộp thuế sẽ khiến nhà nước phải tăng thuế trong khi dân chúng tăng sự chia rẽ giữa những người “có của cải” – các gia đình sở hữu đất với những người’ “không có gì” – những gia đình không có đất đai. Những người giàu có thể càng giàu thêm, những người nghèo lại càng nghèo đi. Tình trạng này sẽ khiến số người nghèo gia tăng, và họ trở nên giận dữ hơn vì vị trí xã hội của họ, và đến lượt nó, theo như quan điểm cổ xưa, có thể gây ra sự chia rẽ giữa người cai trị với sự thần thánh và người dân. Người dân, dưới sự trợ giúp của thần thánh, hoặc ông trời, có thể thể đánh đổ chế độ và lập nên một đứa con mới của trời, một người trị vì mới.
Đó là trong thời kỳ cổ đại, cho đến thời Mao Trạch Đông, người thực sự là người trị vì cuối cùng của Trung Quốc. Sau đó không còn người trị vì nào nữa, mà chỉ có đội ngũ lãnh đạo tập thể của một số nhân vật kỳ cựu xung quanh Đặng Tiểu Bình và các chế độ sau đó của các nhà kỹ trị Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông không dựa vào sự trợ giúp từ thần thánh hay thiên đình, khi ông nổi tiếng là người theo thuyết vô thần, và những người kế vị ông đã cố gắng nhận sự trợ giúp từ người dân. Nhưng khi thiếu đi chỗ dựa từ thần thánh hay từ các cuộc bầu cử hiện đại, sự hỗ trợ này quả là khó có thể đo lường và tin tưởng.
Các chế độ cũ của phương Tây cũng dựa vào Chúa và người dân. Theo những câu nói của người xưa, “Tiếng nói của người dân là tiếng nói của Chúa”, Khi, trong thời kỳ khai sáng, Chúa tách rời khỏi hình ảnh chính trị, các nước phương Tây tìm thấy một nguồn mới về sự thần thánh trong sự sùng bái của sự ủy thác của công chúng đối với việc bầu cử. Những tiếng nói hiện đại cũng có thể là “Tiếng nói của người dân là tiếng nói của Chúa”.
Hiện tại, Trung Quốc không có Chúa và không có sự ủy thác rõ ràng và có thể đo đếm được của một cuộc bầu cử phổ thông. Thực tế là Trung Quốc không có thiên đường và không có người dân. Hơn thế nữa, quan hệ sở hữu, phân phối và tập trung đất đai truyền thống cổ đại – quan hệ đã điều chỉnh và định hướng chu kỳ triều đại trong quá khứ – cũng đã không còn, vì một lý do đơn giản là kinh tế điền địa đã không còn quan trọng tại Trung Quốc.
Trong quá khứ, hơn 90% dân số Trung Quốc sống tại các làng quê, trong khi hiện tại chỉ chưa đến 50% sống tại các khu vực này, và tỷ lệ đang ngày càng giảm. Tỷ trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế cũng giảm và do vậy chu kỳ thịnh, suy của các triều đại cũng đã kết thúc hoàn toàn. Nếu quyền lực Cộng sản bị lật đổ, nó sẽ không xảy ra với các cuộc nổi dậy của nông dân như trong quá khứ. Điều này khiến cho hệ thống chính trị của Trung Quốc như một quả bóng bay trên không trung: không có ai, không có thiên đường và không có chu kỳ đất đai và không có những mối đe dọa lớn đối với giới cầm quyền – nhưng cũng không có hỗ trợ lớn, không có điểm tựa chính.
Nó có thế được xem là một điểm rất mạnh, nhưng cũng có thể xem là một điểm cực kỳ yếu kém, với nền tảng rất nhỏ. Nền tảng hỗ trợ thực tế duy nhất là cấu trúc của nó: một hệ thống Xôviết lồng ghép với hệ thống phong kiến cũ của Trung Quốc, cấu trúc này tự nuôi sống mình và đất nước. Nó cũng là rào cản chính đối với quá trình cải cách và những thành tựu khác của đất nước. Cải cách cấu trúc nhà nước này là cực kỳ khó, bởi nó dựa trên và ăn sâu vào văn hóa đã trải rộng trên toàn đất nước.
Nhưng Trung Quốc cần cải cách để tiến lên và thế giới cần Trung Quốc cải cách cấu trúc để làm cho hệ thống chính trị của Trung Quốc hòa hợp với thế giới. Hòa hợp chính trị có thể tạo chỗ dựa cho kinh tế toàn cầu và thúc đẩy kinh tế toàn cầu tiến lên một bước mạnh hơn. Nó cũng có thể giúp kiểm soát giá nguyên liệu thô, giúp đổi mới công nghệ và kiểm soát khai thác tài nguyên thiên nhiên.
Một thỏa thuận về tỷ giá đồng USD – nhân dân tệ có thể là dễ dàng bởi vì chỉ cần sự tham gia của hai chính quyền trung ương trong khi có thể kiểm soát 35% kinh tế toàn cầu và có thể là một nửa tăng trưởng toàn cầu. Nó cũng có thể dễ dàng hơn bởi sự ràng buộc kéo dài giữa hai đồng tiền. Nhưng để đạt được thỏa thuận này trước hết cần có một sự hòa hợp chính trị.
Một thỏa thuận về tỷ giá đồng USD – euro có thể sẽ khó khăn hơn bởi các hệ thống không chỉ bao gồm hai thực thể chính trị có thể đối thoại song phương. Đằng sau ban lãnh đạo “ảo” tại Brúcxen, có những tiếng nói không hòa hợp tại châu Âu, mỗi tiếng nói có ưu tiên riêng mà sẽ không suy giảm bất chấp nguy cơ khủng hoảng lớn về chính trị, xã hội và kinh tế.
Nhưng nếu một thỏa thuận kinh tế và chính trị giữa Trung Quốc và Mỹ diễn ra, châu Âu có thể cũng tham gia, và một lực hấp dẫn tương tự có thể xảy ra với đồng yên Nhật và đồng bảng Anh. Nó cũng có thể giúp ổn định giá nguyên liệu thô như dầu và khí đốt tại Trung Đông và Nga. Nó có thể là cơ sở cho một hệ thống tài chính quốc tế Bretton Woods mới về kinh tế và chính trị. Nó cũng có thể hỗ trợ cho sự hội tụ chiến lược và quân sự. Ấn định tỷ giá hối đoái và hội tụ quân sự chiến lược-chính trị có thể tạo ra một cấp độ mới cho các nhà cải cách và các doanh nhân vươn ra tầm thế giới.
Tuy nhiên, Mỹ và châu Âu cũng có trách nhiệm lớn. Trong khu vực đồng euro và USD, các quốc gia đang bị các núi nợ đè nặng, Tuy nhiên, một sự tái định giá tài sản của các nước này và một bản cân đối mới cho các quốc gia, đề cập đến quyền sở hữu và kêu gọi đầu tư tư nhân vào tài sản nhà nước, có thể thay đổi hình ảnh tại Mỹ, châu Âu và Trung Quốc.
Nhưng mọi thứ xoay quanh Trung Quốc. Nếu Trung Quốc không bắt đầu tiến trình hòa hợp chính trị với thế giới, tất cả các nước khác sẽ bị kẹt. Và vì vậy, các hệ quả có thể là khắc nghiệt đối với Trung Quốc và tất cả các nước khác.
Đây là một giấc mơ, nhưng cũng có thể có giá trị sau cơn ác mộng – khả năng đối đầu dữ dội với Trung Quốc, vấn đề của Trung Quốc luôn bao gồm hai yếu tố, một yếu tố đại diện bởi nguy cơ đối với bản thân Trung Quốc với tư cách là một thực thể địa chính trị và yếu tố còn lại là do Trung Quốc nằm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Chúng ta có thế tách riêng hai vấn đề bởi nếu không có Đảng Cộng sản, Trung Quốc với tư cách là một nền dân chủ có thể gây ra một số nguy cơ đối với thế giới. Giả định rằng sự vươn lên của Trung Quốc sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực toàn cầu, nó sẽ làm giảm quyền lực của Mỹ. Chúng ta có thể thấy những lựa chọn khác nhau mà Mỹ có thể dùng để ngăn chặn hay làm chậm sự vươn lên của Trung Quốc, điều có thể gây ra nhiều vấn đề cho Mỹ. Lựa chọn đầu tiên là chiến tranh chống lại Trung Quốc. Mỹ có thể phát động một cuộc chiến lớn chống lại Trung Quốc, Tron2 trường hợp này Mỹ đương nhiên sẽ thắng khi giết được 400 triệu người Trung Quốc, số lượng này lớn gấp 8 lần số người chết trong Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Gây ra số lượng thương vong quá lớn tại Trung Quốc có thể tạo nên những vết thương về tinh thần và đạo đức lớn tại Mỹ, làm giảm năng lượng của Mỹ trong nhiều thế kỷ, điều có thể khiến Mỹ đi xuống ngay cả khi là kẻ thắng trận. Mặt khác, nếu nhìn vào Trung Quốc, chúng ta sẽ thấy rằng từ năm 1980 đến 2010, chính sách một con tại Trung Quốc đã lấy đi của dân số nước này 400 triệu người. Tức là nếu không có chính sách đó, dân số Trung Quốc hiện có thể đã lên đến 1,8 tỷ người. Vì vậy, nếu Trung Quốc, sau thất bại đẫm máu đó, sẽ bỏ chính sách một con và dân số có thể tăng trở lại lên 1,4 tỷ người trong khoảng 30 năm. Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ cực kỳ giận dữ với Mỹ và sẽ dẫn đến việc trả thù vào một thời điểm nào đó khi mà Mỹ có thể vẫn bị tổn thương về phương diện đạo đức vì đã giết hại 400 triệu người.
Có thể có lựa chọn thứ hai, đó là chia rẽ Trung Quốc thành nhiều nhà nước cạnh tranh của người Trung Quốc. Lựa chọn này có thể xua đi một số căng thẳng trong cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ, đồng thời có thể đem lại cho Mỹ lựa chọn chiến đấu với một Trung Quốc nhỏ hơn. Trên thực tế, Trung Quốc có thể bị chia tách thành 4 – 5 nước nhỏ, mỗi nước có dân số ngang bằng Mỹ. Điều đó có nghĩa là mỗi nước Trung Quốc nhỏ cuối cùng có thể trở thành một đối thủ mạnh của các nước kia.
Trên thực tế, chúng ta có thể thấy rằng thế giới, bao gồm nền văn minh Trung Quốc cổ đại, đã bị chia rẽ. Ngoài bản thân Trung Quốc (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), chúng ta có Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và Xinhgapo, tất cả đều là những quốc gia và vùng lãnh thổ rất cạnh tranh. Tuy nhiên, Nhật Bản, quốc gia lớn nhất trong số đó, có dân số chỉ bằng một phần ba so với Mỹ và so với một quốc gia giả định Trung Quốc nhỏ hơn. Trong những năm 1980, Nhật Bản đã gần như vượt qua kinh tế Mỹ và đặt ra một điều khi đó được xem là mối đe dọa chiến lược lớn. Từ đó, chúng ta có thể dự đoán nguy cơ của nhiều nước Trung Quốc trên thế giới. Có nghĩa là, nhiều nước Trung Quốc có thể đặt ra một thách thức lớn hơn, thách thức lớn về kinh tế, đối với Mỹ hơn là một nước Trung Quốc thống nhất.
Lựa chọn thứ ba có thể là một cuộc chiến hủy diệt chống lại Trung Quốc, khi đó 1,4 tỷ người bị thảm sát. Tuy nhiên, trong thế giới hiện đại ngày nay, điều này là cực kỳ khó xảy ra. Nỗ lực của Hitler nhằm tiêu diệt 10 triệu người Do Thái đã chứng minh đó là điều không thể. Trên thực tế, nỗ lực của Hitler đã giúp tái sinh Nhà nước Do Thái Ixraen sau 2000 năm, và sức mạnh cũng như ảnh hưởng của người Do Thái hiện lớn hơn so với những năm 1930 – thời kỳ xảy ra chiến dịch tiêu diệt người Do Thái của quân phát xít.
Người Trung Quốc đã chứng minh sức tái sinh rất lớn tại nhiều nước Đông Nam Á. Ví dụ, tại Inđônêxia, trong khi chỉ chiếm thiểu số (có thể là nhỏ hơn 5% dân số) hay tại Philippin (khoảng 1% dân số), nhưng họ kiểm soát khoảng 90% nền kinh tế. Diệt vong 1,4 tỷ người Trung Quốc là khó khăn hơn gấp bội so với nỗ lực của Hitler và gần như chắc chắn sẽ kết thúc với thất bại khủng khiếp.
Lựa chọn thứ tư là chiến lược hiện nay của Mỹ, chính sách ngăn chặn/can dự, mang lại kết quả hỗn hợp. Chiến lược ngăn chặn toàn diện mà Mỹ áp đặt chống lại Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh gặp khó khăn vì nền kinh tế Liên Xô rất ít hoặc là không trao đồi với các nền kinh tế tư bản. Trong tình huống đó, các nền kinh tế tư bản có thể gây áp lực lên Liên Xô và khiến nền kinh tế của Liên Xô phải gánh chịu mà bản thân họ không phải chịu tổn hại gì. Kiềm chế Liên Xô trên thực tế có thể mang lại lợi ích cho các nước tư bản.
Ngược lại, hiện nay Trung Quốc hội nhập toàn diện với các nền kinh tế tư bản. Bất kỳ sự kiềm chế thực tế nào đối với Trung Quốc cũng có thể gây tổn hại cho Trung Quốc, nhưng cũng ảnh hưởng xấu đến các nước tư bản. Sự hội nhập kinh tế ở mức độ cao giữa Trung Quốc và phần còn lại của thế giới cho thấy có một số lượng ngày càng nhiều người ngoài Trung Quốc có thể bị tác động xấu trong trường hợp có chính sách ngăn chặn, và vì vậy họ sẽ chống lại chính sách này.
Hơn nữa, Trung Quốc có thể dễ dàng chống lại bất kỳ chính sách ngăn chặn nào trên hai mặt trận. Thứ nhất, bằng cách tăng những lợi ích ủng hộ cho Trung Quốc tại Mỹ và các quốc gia khác. Các quốc gia khác có thể bị gây áp lực trong việc lựa chọn quan hệ với Mỹ hay Trung Quốc, và những nước đó có thể tận dụng tình thế khó khăn này để tăng cường thu hút vốn và “bán mình” cho người trả giá cao hơn – hay thậm chí là cho cả hai người trả giá. Vì vậy, thực tế họ có thể được lợi trong cuộc chiến giữa hai cường quốc này.
Chính sách ngăn chặn và ràng buộc này tạo ra một tình thế rất phức tạp xung quanh Trung Quốc với các quốc gia không đứng về phía Trung Quốc nhưng cũng không hoàn toàn đứng về phía Mỹ. Do đó, trong dài hạn, chính sách này tạo ra một tình thế mà trong đó Trung Quốc sẽ không hoàn toàn bị kiềm tỏa và các nước xung quanh Trung Quốc có thể trở thành một thách thức đối với Mỹ.
Cuối cùng, kết quả có thể là: A – Trung Quốc bị kiềm tỏa, nhưng Mỹ phải đối đầu với nhiều nước hung hăng xung quanh Trung Quốc; hoặc B – Trung Quốc không bị kiềm tỏa và bị chọc giận bởi sự cạnh tranh này.
Ngoài ra, có một bầu không khí hoài nghi trên thế giới, nơi mà mọi người cạnh tranh với nhau và vai trò của Mỹ có thể suy giảm. Đó là một tình huống hoàn toàn giống với sự cạnh tranh toàn diện của thời kỳ Chiến Quốc hay của châu Âu với sự suy thoái của Đế chế Habsburg sau Vương triều Philip II và trước sự nổi lên của các siêu cường Pháp và Liên hiệp Anh.
Tất nhiên, có những cách khác mà Mỹ có thể tìm ra chính sách đúng của mình để ngăn chặn/can dự. Tuy nhiên, thực tế là 10 năm thực hiện những chính sách như vậy của Mỹ đã không hiệu quả trong việc kiềm tỏa Trung Quốc. Chính sách đó tạo ra một sự ngờ vực gia tăng giữa hai nước và góp phần vào tăng trưởng của các nước và các nền kinh tế rất hung hăng và cạnh tranh với cả Trung Quốc và Mỹ.
Thực tế là cho dù chính sách ngăn chặn có thành công hoàn toàn, thì Mỹ cũng có thể phải đối đầu với áp lực lớn hơn từ các nước trước đây đã chống lại Trung Quốc, một vài trong số các nước đó có thể thấy rằng, sau khi Trung Quốc thất bại, họ sẽ bắt đầu với chính sách chống Mỹ. Tất nhiên, hoạt động chính trị là đánh bại các kẻ thù vào lúc đó. Tuy nhiên, có thể dễ dàng hơn để tránh việc đối đầu vói một kẻ thù trong khi tạo ra một kẻ thù mới.
Trong bất cứ trường họp nào, Trung Quốc cũng đại diện cho một mối đe dọa ngoài vấn đề về Đảng Cộng sản. Khi nhìn vào phong trào dân tộc chủ nghĩa và phong trào chống Nhật Bản, có người sẽ nghĩ rằng một Trung Quốc dân chủ có thể dễ dàng trở nên hung hăng hơn và chuyển sang chủ nghĩa phát xít. Có lẽ trong trường hợp này, đối vói Mỹ, Đảng Cộng sản lại là hữu ích chứ không phải là một kẻ thù.
Có lẽ, với những phân tích đơn giản và ngắn gọn trên. Oasinhtơn nên nghĩ về các hướng rất khác nhau. Kế hoạch là xây dựng một cục diện Trung-Mỹ mới. Kế hoạch này cũng có thể loại trừ hoàn toàn cuộc chơi bập bênh trên lĩnh vực địa chính trị – và tại Trung Quốc. Nó được hỗ trợ bởi ý tưởng của Trịnh Tất Kiên về xây dựng một cộng đồng có lợi ích chung. Chỉ có thông qua hợp tác giữa hai nước mới bảo đảm cho vai trò chính trị của Mỹ trong thế kỷ này và thế kỷ tiếp theo. Không có nó, bất kỳ giải pháp nào cũng kéo Mỹ cùng với Trung Quốc đi xuống.
Hợp tác với Trung Quốc ở thời điểm hiện tại là quá dễ dàng, trong điều kiện Trung Quốc là một quốc gia phân cấp rõ ràng, nơi mà một đảng lãnh đạo toàn bộ xã hội rộng lớn. Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng lúc đó, đang ở trong một cuộc khủng hoang chính trị nghiêm trọng và hiện tại không có quyết định rõ ràng phải làm gì.
Hơn nữa, Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức lo lắng về việc Mỹ có thể lợi dụng khủng hoảng hiện tại để tấn công Trung Quốc. Đảng Cộng sản Trung Quốc đương nhiên cần một giải pháp thoát ra khỏi tình thế khó khăn hiện tại và Mỹ cần một giải pháp để thoát khỏi những thách thức chiến lược hiện tại với Trung Quốc. Mỹ cần năng lượng và sức sống từ Trung Quốc, và với Trung Quốc trên đường chân trời phía Tây, Trung Quốc có thể là giới hạn sau cùng đối với Mỹ, giới hạn đã được hình thành từ Caliphoócnia đến Haoai. Trung Quốc có thể mang lại sự thúc đẩy cần thiết cho Mỹ. Trung Quốc thực sự quan tâm tới việc tiếp cận có hệ thống với Mỹ.
Dù tăng trưởng nhanh, nhưng Trung Quốc có một trở ngại hệ thống: thiếu sự đổi mới, tức là thiếu khả năng sản sinh công nghệ mới và ý tưởng mới về thế giới. Năng lực sáng tạo đến từ Mỹ, tuy nhiên lại thiếu sức sống như của Trung Quốc. Do vậy, có rất nhiều không gian cho sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước này.
Tuy nhiên, có một sự thiếu tin tưởng một cách sâu sắc từ cả hai phía. Sự thiếu tin tưởng này có thể được khắc phục một cách triệt để. Nghĩa là, Mỹ có thể giúp đỡ Trung Quốc trong suốt thời kỳ chuyển giao hiện tại của Trung Quốc, thời kỳ này không làm suy giảm sức mạnh của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà làm cho quyền lực của Đảng Cộng sản thêm vững chắc bằng chế độ dân chủ và hiệu quả hơn.
Cùng lúc đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa Trung Quốc và Mỹ có thể có sự tham gia của các nước khác, những nước cảm thấy liên quan hơn là đứng ngoài cuộc. Việc loại trừ các nước đó có thể khiến các nước này chống lại cả Mỹ và Trung Quốc, đồng thời phá hỏng mọi sự tin tưởng mới được tạo ra. Đó có thể là một hành động cân bằng khó khăn, nhưng là khả thi và có thể dễ dàng hơn việc mỗi nước “bán mình” cho cả Trung Quốc và Mỹ./.
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Theo Ba Sàm
Việt Nam là một trong ba nước mua vũ khí của Nga nhiều nhất
20/12/2012- Tổng thống Vladimir Putin cho biết xuất khẩu võ khí của Nga trong năm nay đạt mức kỷ lục 14 tỷ đô la và Việt Nam, Ấn Độ, cùng Algeria vẫn là các thị trường thu mua lớn nhất, theo tin báo chí Nga loan tải.

Tên lửa Kalibr, loại trang bị cho tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam, được phóng lên từ chiến hạm Dagestan của Nga. Trong vụ thử nghiệm này, tên lửa Kalibr bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách 180km.
Chuyên gia quân sự Nga, Ilya Kraminik, cho biết hiện tại sự hợp tác quân sự giữa Nga với Việt Nam được dựa trên các tiêu chí hoàn toàn khác so với thời Liên Xô cũ.
Ông Kraminik nói xưa kia Liên Xô giúp không cho các chế độ XHCN như Việt Nam hoặc chỉ nhận các khoản tượng trưng, nhưng giờ đây, Nga đang bán rất nhiều võ khí cho Việt Nam dựa trên cơ sở thương mại.
Trung tâm Phân tích Thương mại Võ khí Thế giới đánh giá từ năm 2008 đến 2011, xuất khẩu võ khí của Nga sang Việt Nam trị giá 1,88 tỷ đô la, chiếm 6,3% tổng lượng xuất khẩu võ khí của Nga.
Vẫn theo Trung tâm này, trong giai đoạn từ nay đến 2015, võ khí xuất khẩu của Nga sang Việt Nam sẽ đạt 2,43 tỷ đô la, tức chiếm 7,6%.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ký nhiều hợp đồng lớn mua võ khí từ Nga và đã trở thành một trong những nước thu mua võ khí hải quân nhiều nhất của nước này.
Chương trình lớn nhất là việc chuyển giao các tàu ngầm diesel-điện lớp Kilo 636 có trang bị thêm hệ thống phi đạn hành trình chống hạm Club-S cho hải quân Việt Nam giữa lúc căng thẳng vì tranh chấp Biển Đông đang tiếp tục leo thang.
Nguồn Interfax-Ukraine/ Kommersant/ The Voice of Russia/NavalToday.com

Tên lửa Kalibr, loại trang bị cho tàu ngầm lớp Kilo của Việt Nam, được phóng lên từ chiến hạm Dagestan của Nga. Trong vụ thử nghiệm này, tên lửa Kalibr bắn trúng mục tiêu ở khoảng cách 180km.
Chuyên gia quân sự Nga, Ilya Kraminik, cho biết hiện tại sự hợp tác quân sự giữa Nga với Việt Nam được dựa trên các tiêu chí hoàn toàn khác so với thời Liên Xô cũ.
Ông Kraminik nói xưa kia Liên Xô giúp không cho các chế độ XHCN như Việt Nam hoặc chỉ nhận các khoản tượng trưng, nhưng giờ đây, Nga đang bán rất nhiều võ khí cho Việt Nam dựa trên cơ sở thương mại.
Trung tâm Phân tích Thương mại Võ khí Thế giới đánh giá từ năm 2008 đến 2011, xuất khẩu võ khí của Nga sang Việt Nam trị giá 1,88 tỷ đô la, chiếm 6,3% tổng lượng xuất khẩu võ khí của Nga.
Vẫn theo Trung tâm này, trong giai đoạn từ nay đến 2015, võ khí xuất khẩu của Nga sang Việt Nam sẽ đạt 2,43 tỷ đô la, tức chiếm 7,6%.
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ký nhiều hợp đồng lớn mua võ khí từ Nga và đã trở thành một trong những nước thu mua võ khí hải quân nhiều nhất của nước này.
Chương trình lớn nhất là việc chuyển giao các tàu ngầm diesel-điện lớp Kilo 636 có trang bị thêm hệ thống phi đạn hành trình chống hạm Club-S cho hải quân Việt Nam giữa lúc căng thẳng vì tranh chấp Biển Đông đang tiếp tục leo thang.
Nguồn Interfax-Ukraine/ Kommersant/ The Voice of Russia/NavalToday.com
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
Chạu đua vũ trang hải quân làm dậy sóng biển Châu Á
19/12/2012- (Jonathan Manthorpe, Postmedia News, Canada)- Một cuộc chạy đua vũ trang ở châu Á trong thập kỷ qua về vũ khí phục vụ cho hải chiến có nghĩa là bất kỳ tính toán sai lầm chính trị nào trong các vụ tranh chấp lãnh hải ở khu vực này có thể nhanh chóng dẫn đến chiến tranh.
Cuộc chạy đua vũ trang này là một phản ứng của chính phủ các nước Viễn Đông và Đông Nam Á để đối phó các mục tiêu của Trung Quốc khi Bắc Kinh tìm cách để đảm bảo an ninh hàng hải riêng của mình và khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp bằng cách xây dựng một lực lượng hiện đại, hải quân nước xanh.
Cuộc đối đầu trên biển trong những tháng gần đây giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông cho đến nay chỉ liên quan đến giám sát hàng hải, bảo vệ nghề cá và các tàu bảo vệ bờ biển.
Tuy nhiên, cuộc bầu cử tại Nhật Bản vào ngày Chủ nhật qua có thể tạo ra một chính phủ liên minh do Đảng Dân chủ Tự do, lãnh đạo bởi Shinzo Abe, một nhân vật diều hâu rất cứng rắn với các hành động khiêu khích của Trung Quốc có thể khiến tình hình thay đổi.
Abe cam kết sẽ cố gắng sửa đổi hiến pháp hòa bình của Nhật Bản để ra đời hiến pháp mới cho phép nước này tiến hành chiến tranh để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, và đã tăng cường quân đội.
Nhật Bản đã có một lực lượng hải quân mạnh mẽ nhất ở châu Á, mặc dù Bắc Kinh đã đầu tư lớn cho hải quân Trung Quốc trong vài năm qua.
Abe đã đề xuất trong chiến dịch tranh cử ông sẽ triển khai quân đội và tàu chiến đến quần đảo Senkaku (gọi là Điếu Ngư trong tiếng Trung Quốc), quần đảo tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo.
Bắc Kinh thiết kế và xây dựng lực lượng hải quân hiện đại nhằm mục đích chủ yếu là xâm lược Đài Loan và bất kỳ vùng lãnh thổ nào mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trong khu vực.
Cuối cùng, Bắc Kinh nhằm mục đích ngăn chặn hoặc đánh bại Quân đội Hoa Kỳ có thể được gửi đến để hỗ trợ các đồng minh của Washington trong khu vực.
Do đó đã xây dựng một hạm đội tàu ngầm lớn với 62 tàu tấn công, và 3 tàu mang tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng bắn tới Mỹ
Trung Quốc cũng đã có một kho tên lửa lớn có khả năng đánh chìm các hạm đội tàu sân bay, và một loạt hơn 75 tàu hộ tống và tàu khu trục được trang bị tên lửa.
Gần đây nhất, Bắc Kinh đã trình làng một tàu sân bay đang được sử dụng để đào tạo phi hành đoàn cho ít nhất 3 tàu sân bay mà Bắc Kinh đang có kế hoạch chế tạo.
Nhật Bản có hai tàu sân bay, 32 tàu khu trục các loại, và 16 tàu ngầm.
Mặc dù nhỏ hơn đáng kể so với hải quân Trung Quốc, nhưng Nhật sử dụng kỹ thuật tiên tiến hơn, và khả năng không chiến cũng được coi là mạnh hơn Trung Quốc.
Đặc biệt, các khách hàng mua vũ khí tiềm năng của Nhật Bản ở Đông Nam Á, có tranh chấp lãnh hải và tài nguyên ở Biển Đông với Trung Quốc, ủng hộ việc sửa đổi các điều khoản hoà bình trong hiến pháp của nước này.
Bộ trưởng Ngoại giao Phi-líp-pin Albert del Rosario gần đây đã nói với Thời báo tài chính London (Financial Times): "Chúng tôi rất hoan nghênh vì Chúng tôi đang tìm kiếm để cân bằng các yếu tố trong khu vực, và Nhật Bản có thể là một yếu tố cân bằng đáng kể."
Chính phủ Ma-ni-la của Tổng thống Benigno Aquino đã là một mục tiêu đặc biệt trong việc triển khai sức mạnh của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông, cũng nằm trong khu kinh tế độc quyền của Philippines theo Công ước của Luật biển Quốc tế.
Manila cũng mua rất nhiều trang thiết bị hải quân mới bao gồm tàu tuần tra, máy bay trực thăng, một tàu khu trục tân trang lại cùng với hai tàu tuần tra bờ biển của Hoa Kỳ. Nước này cũng mua máy bay đa năng do Đoài Loan sản xuất và đã đặt hàng các tàu khu trục và máy bay tấn công chống tàu của Ý.
Các mục tiêu chính khác cho sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông là Việt Nam. Những ngày cuối tuần vừa qua, có các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội sau khi Bắc Kinh đe dọa đáp trả nếu tàu thăm dò dầu khí Việt Nam không chấm dứt khảo sát các nguồn tài nguyên ở biển Đông.
Việt Nam (*), đã có một trận hải chiến đẫm máu với Trung Quốc vào năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa, đã bắt tay vào một chương trình hiện đại hóa hải quân.
Hà Nội mua sáu tàu ngầm được trang bị tên lửa chống tàu, khoảng 20 máy bay chiến đấu được thiết kế cho hải chiến và hai tàu khu trục tàng hình lớp Gepard của Nga.
Việt Nam cũng mua tàu hộ tống từ Hà Lan và có được một hệ thống đầy đủ các tên lửa đạn đạo chống tàu ven biển (nguyên văn: a full kit of coastal anti-ship ballistic missiles) cũng như các loại vũ khí khác từ Israel.
Đồng thời, Hà Nội đang khuyến khích Mỹ và các nước lớn khác trong khu vực có lực lượng hải quân mạnh thường xuyên đến thăm các cảng của Việt Nam và tham gia vào các cuộc diễn tập hải quân chung.
Trong số các nước Đông Nam Á khác, tàu ngầm là phương tiện ưa thích dùng để chống lại hải quân Trung Quốc.
In-đô-nê-xi-a là nước đầu tiên có tàu ngầm. Xin-ga-po đang nâng cấp hạm đội tàu ngầm của mình với việc bổ sung hai chiếc lớp Archer mua từ Thụy Điển, và Malaysia đã mua hai tàu lớp Scorpene của Pháp. Thái Lan và Philippines đang có kế hoạch tương tự.
Các tuyến đường biển của Châu Á, theo một báo cáo gần đây của Viện Lowly Institute for International Policy của Úc, đang ngày càng trở nên "đông đúc, tranh cãi, dễ bị tổn thương để dẫn đến xung đột vũ trang."
Copyright (c) The Edmonton Journal
(*): Việt Nam Cộng Hòa
Cuộc chạy đua vũ trang này là một phản ứng của chính phủ các nước Viễn Đông và Đông Nam Á để đối phó các mục tiêu của Trung Quốc khi Bắc Kinh tìm cách để đảm bảo an ninh hàng hải riêng của mình và khẳng định chủ quyền đối với các quần đảo tranh chấp bằng cách xây dựng một lực lượng hiện đại, hải quân nước xanh.
Cuộc đối đầu trên biển trong những tháng gần đây giữa Trung Quốc và các nước láng giềng trong các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông cho đến nay chỉ liên quan đến giám sát hàng hải, bảo vệ nghề cá và các tàu bảo vệ bờ biển.
Tuy nhiên, cuộc bầu cử tại Nhật Bản vào ngày Chủ nhật qua có thể tạo ra một chính phủ liên minh do Đảng Dân chủ Tự do, lãnh đạo bởi Shinzo Abe, một nhân vật diều hâu rất cứng rắn với các hành động khiêu khích của Trung Quốc có thể khiến tình hình thay đổi.
Abe cam kết sẽ cố gắng sửa đổi hiến pháp hòa bình của Nhật Bản để ra đời hiến pháp mới cho phép nước này tiến hành chiến tranh để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ, và đã tăng cường quân đội.
Nhật Bản đã có một lực lượng hải quân mạnh mẽ nhất ở châu Á, mặc dù Bắc Kinh đã đầu tư lớn cho hải quân Trung Quốc trong vài năm qua.
Abe đã đề xuất trong chiến dịch tranh cử ông sẽ triển khai quân đội và tàu chiến đến quần đảo Senkaku (gọi là Điếu Ngư trong tiếng Trung Quốc), quần đảo tranh chấp giữa Bắc Kinh và Tokyo.
Bắc Kinh thiết kế và xây dựng lực lượng hải quân hiện đại nhằm mục đích chủ yếu là xâm lược Đài Loan và bất kỳ vùng lãnh thổ nào mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trong khu vực.
Cuối cùng, Bắc Kinh nhằm mục đích ngăn chặn hoặc đánh bại Quân đội Hoa Kỳ có thể được gửi đến để hỗ trợ các đồng minh của Washington trong khu vực.
Do đó đã xây dựng một hạm đội tàu ngầm lớn với 62 tàu tấn công, và 3 tàu mang tên lửa đạn đạo liên lục địa có khả năng bắn tới Mỹ
Trung Quốc cũng đã có một kho tên lửa lớn có khả năng đánh chìm các hạm đội tàu sân bay, và một loạt hơn 75 tàu hộ tống và tàu khu trục được trang bị tên lửa.
Gần đây nhất, Bắc Kinh đã trình làng một tàu sân bay đang được sử dụng để đào tạo phi hành đoàn cho ít nhất 3 tàu sân bay mà Bắc Kinh đang có kế hoạch chế tạo.
Nhật Bản có hai tàu sân bay, 32 tàu khu trục các loại, và 16 tàu ngầm.
Mặc dù nhỏ hơn đáng kể so với hải quân Trung Quốc, nhưng Nhật sử dụng kỹ thuật tiên tiến hơn, và khả năng không chiến cũng được coi là mạnh hơn Trung Quốc.
Đặc biệt, các khách hàng mua vũ khí tiềm năng của Nhật Bản ở Đông Nam Á, có tranh chấp lãnh hải và tài nguyên ở Biển Đông với Trung Quốc, ủng hộ việc sửa đổi các điều khoản hoà bình trong hiến pháp của nước này.
Bộ trưởng Ngoại giao Phi-líp-pin Albert del Rosario gần đây đã nói với Thời báo tài chính London (Financial Times): "Chúng tôi rất hoan nghênh vì Chúng tôi đang tìm kiếm để cân bằng các yếu tố trong khu vực, và Nhật Bản có thể là một yếu tố cân bằng đáng kể."
Chính phủ Ma-ni-la của Tổng thống Benigno Aquino đã là một mục tiêu đặc biệt trong việc triển khai sức mạnh của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough ở Biển Đông, cũng nằm trong khu kinh tế độc quyền của Philippines theo Công ước của Luật biển Quốc tế.
Manila cũng mua rất nhiều trang thiết bị hải quân mới bao gồm tàu tuần tra, máy bay trực thăng, một tàu khu trục tân trang lại cùng với hai tàu tuần tra bờ biển của Hoa Kỳ. Nước này cũng mua máy bay đa năng do Đoài Loan sản xuất và đã đặt hàng các tàu khu trục và máy bay tấn công chống tàu của Ý.
Các mục tiêu chính khác cho sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông là Việt Nam. Những ngày cuối tuần vừa qua, có các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội sau khi Bắc Kinh đe dọa đáp trả nếu tàu thăm dò dầu khí Việt Nam không chấm dứt khảo sát các nguồn tài nguyên ở biển Đông.
Việt Nam (*), đã có một trận hải chiến đẫm máu với Trung Quốc vào năm 1974 tại quần đảo Hoàng Sa, đã bắt tay vào một chương trình hiện đại hóa hải quân.
Hà Nội mua sáu tàu ngầm được trang bị tên lửa chống tàu, khoảng 20 máy bay chiến đấu được thiết kế cho hải chiến và hai tàu khu trục tàng hình lớp Gepard của Nga.
Việt Nam cũng mua tàu hộ tống từ Hà Lan và có được một hệ thống đầy đủ các tên lửa đạn đạo chống tàu ven biển (nguyên văn: a full kit of coastal anti-ship ballistic missiles) cũng như các loại vũ khí khác từ Israel.
Đồng thời, Hà Nội đang khuyến khích Mỹ và các nước lớn khác trong khu vực có lực lượng hải quân mạnh thường xuyên đến thăm các cảng của Việt Nam và tham gia vào các cuộc diễn tập hải quân chung.
Trong số các nước Đông Nam Á khác, tàu ngầm là phương tiện ưa thích dùng để chống lại hải quân Trung Quốc.
In-đô-nê-xi-a là nước đầu tiên có tàu ngầm. Xin-ga-po đang nâng cấp hạm đội tàu ngầm của mình với việc bổ sung hai chiếc lớp Archer mua từ Thụy Điển, và Malaysia đã mua hai tàu lớp Scorpene của Pháp. Thái Lan và Philippines đang có kế hoạch tương tự.
Các tuyến đường biển của Châu Á, theo một báo cáo gần đây của Viện Lowly Institute for International Policy của Úc, đang ngày càng trở nên "đông đúc, tranh cãi, dễ bị tổn thương để dẫn đến xung đột vũ trang."
Copyright (c) The Edmonton Journal
(*): Việt Nam Cộng Hòa
Nga vượt mức kế hoạch về xuất khẩu quân sự
18/12/2012- Nga đã lập kỷ lục về xuất khẩu vũ khí. Thay vì dự trù kế hoạch năm nay là 13,2 tỷ dollar, khối lượng thực tế đã vượt hơn 14 tỷ dollar, - số liệu này do Tổng thống Vladimir Putin nêu ra tại phiên họp về hợp tác kỹ thuật quân sự.
Kết quả tốt đẹp đó cũng không hẳn là điều bất ngờ đáng kinh ngạc. Cả trong cộng đồng chuyên viên cũng nói về việc nâng cao kế hoạch cung cấp trang bị quân sự ra nước ngoài.
Chuyên viên quân sự Anton Chernov lý giải như sau: “Triển vọng hoàn thành vượt mức kế hoạch là chuyện đã được chờ đợi, vì trong ngành công nghiệp Nga, cụ thể là các xí nghiệp quốc phòng tham gia vào hoạt động đóng tàu, đã xuất hiện những đơn đặt hàng bổ sung từ các đối tác nước ngoài. Thêm vào đó, sức mạnh Nga được bảo đảm bằng những hợp đồng nâng cấp và hiện đại hóa những kỹ thuật đã cung cấp trước đây, nhất là những trang thiết bị còn lại từ thời Liên Xô và cho đến nay vẫn được sử dụng ở một số nước”.
Các chuyên gia gắn thành tích của công nghiệp quốc phòng trong nước với tình hình địa chính trị phức tạp trên thế giới. Trên nền bối cảnh những cuộc xung đột, nhiều quốc gia mở rộng việc mua sắm vũ khí. Chẳng hạn như Việt Nam và hàng loạt nước Đông Nam Á đang vấp phải những yêu sách ngày càng lớn của Trung Quốc đối với khu vực giàu tài nguyên hydrocarbon ở Biển Đông (Hoa Nam) mà Hà Nội coi là thuộc chủ quyền riêng của mình. Trong năm qua, ngang hàng với Ấn Độ và Algeria, Việt Nam đã là khách hàng cơ bản mua vũ khí Nga.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng trong thành công xuất khẩu vũ khí của Nga là công tác của cơ cấu quân sự Nga.
Khối công nghiệp-quốc phòng trong nước liệu có duy trì được kế hoạch đầy kỳ vọng? Hàng loạt chuyên viên lưu ý đến thực tế là phần lớn vũ khí của Nga đem xuất khẩu đều dựa trên các mẫu thiết kế chế tạo từ thời Liên Xô. Nhưng kỹ thuật xô-viết đã có phần lỗi thời, vậy khi đó sẽ thế nào? Chuyên viên Victor Murakhovski từ Ủy ban công nghiệp quân sự tin chắc rằng, tổ hợp công nghiệp-quốc phòng Nga đủ sức đáp ứng với những thách đố mới.
Ông Murakhovski nhận định: “Hiện nay ở nước ta trong tổ hợp công nghiệp-quốc phòng đang mở ra giai đoạn chuyển đổi sang thế hệ mới các vũ khí và thiết bị quân sự theo tất cả các hướng. Sau khoảng 5-7-10 năm, thế hệ thứ năm sẽ chiếm tỷ lệ cơ bản trong xuất khẩu. Ở thời điểm hiện tại, đang có danh mục đơn đặt hàng xuất khẩu trị giá khoảng 40 tỷ dollar, đảm bảo công việc cho vài năm tới, và triển vọng chung cũng khả quan”.
Nga sẽ làm việc tích cực để tiếp tục tăng cường tỷ lệ sản phẩm Nga trên thị trường thế giới. Song hành với cung cấp những hệ thống vũ khí hiện đại như thông lệ, sẽ mở mang cả những hướng hoạt động mới. Trước hết là liên doanh hợp tác sản xuất sản phẩm có tính năng quân sự và đầu tư cho triển khai công tác nghiên cứu phát triển những mẫu thiết kế tiên tiến.
Tiếng nói nước Nga
Kết quả tốt đẹp đó cũng không hẳn là điều bất ngờ đáng kinh ngạc. Cả trong cộng đồng chuyên viên cũng nói về việc nâng cao kế hoạch cung cấp trang bị quân sự ra nước ngoài.
Chuyên viên quân sự Anton Chernov lý giải như sau: “Triển vọng hoàn thành vượt mức kế hoạch là chuyện đã được chờ đợi, vì trong ngành công nghiệp Nga, cụ thể là các xí nghiệp quốc phòng tham gia vào hoạt động đóng tàu, đã xuất hiện những đơn đặt hàng bổ sung từ các đối tác nước ngoài. Thêm vào đó, sức mạnh Nga được bảo đảm bằng những hợp đồng nâng cấp và hiện đại hóa những kỹ thuật đã cung cấp trước đây, nhất là những trang thiết bị còn lại từ thời Liên Xô và cho đến nay vẫn được sử dụng ở một số nước”.
Các chuyên gia gắn thành tích của công nghiệp quốc phòng trong nước với tình hình địa chính trị phức tạp trên thế giới. Trên nền bối cảnh những cuộc xung đột, nhiều quốc gia mở rộng việc mua sắm vũ khí. Chẳng hạn như Việt Nam và hàng loạt nước Đông Nam Á đang vấp phải những yêu sách ngày càng lớn của Trung Quốc đối với khu vực giàu tài nguyên hydrocarbon ở Biển Đông (Hoa Nam) mà Hà Nội coi là thuộc chủ quyền riêng của mình. Trong năm qua, ngang hàng với Ấn Độ và Algeria, Việt Nam đã là khách hàng cơ bản mua vũ khí Nga.
Tuy nhiên, yếu tố quan trọng trong thành công xuất khẩu vũ khí của Nga là công tác của cơ cấu quân sự Nga.
Khối công nghiệp-quốc phòng trong nước liệu có duy trì được kế hoạch đầy kỳ vọng? Hàng loạt chuyên viên lưu ý đến thực tế là phần lớn vũ khí của Nga đem xuất khẩu đều dựa trên các mẫu thiết kế chế tạo từ thời Liên Xô. Nhưng kỹ thuật xô-viết đã có phần lỗi thời, vậy khi đó sẽ thế nào? Chuyên viên Victor Murakhovski từ Ủy ban công nghiệp quân sự tin chắc rằng, tổ hợp công nghiệp-quốc phòng Nga đủ sức đáp ứng với những thách đố mới.
Ông Murakhovski nhận định: “Hiện nay ở nước ta trong tổ hợp công nghiệp-quốc phòng đang mở ra giai đoạn chuyển đổi sang thế hệ mới các vũ khí và thiết bị quân sự theo tất cả các hướng. Sau khoảng 5-7-10 năm, thế hệ thứ năm sẽ chiếm tỷ lệ cơ bản trong xuất khẩu. Ở thời điểm hiện tại, đang có danh mục đơn đặt hàng xuất khẩu trị giá khoảng 40 tỷ dollar, đảm bảo công việc cho vài năm tới, và triển vọng chung cũng khả quan”.
Nga sẽ làm việc tích cực để tiếp tục tăng cường tỷ lệ sản phẩm Nga trên thị trường thế giới. Song hành với cung cấp những hệ thống vũ khí hiện đại như thông lệ, sẽ mở mang cả những hướng hoạt động mới. Trước hết là liên doanh hợp tác sản xuất sản phẩm có tính năng quân sự và đầu tư cho triển khai công tác nghiên cứu phát triển những mẫu thiết kế tiên tiến.
Tiếng nói nước Nga
Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012
Báo Nga: “Trung Quốc sẽ không thể trở thành siêu cường”
17/12/2012- (GDVN) - Báo cáo của Ủy ban tình báo quốc gia Mỹ đã đưa ra nhận định tình hình và cục diện thế giới trong 15-20 năm tới với nhiều sự thay đổi to lớn.

Cuối tháng 11/2012, Bộ trưởng Hải quân Mỹ Ray Mabus thăm Trung Quốc, lên tham quan tàu bệnh viện Hòa Bình Phương Châu và tàu hộ vệ tên lửa Từ Châu - Hải quân Trung Quốc
Ngày 12/12, tờ “Yomiuri Shimbun” Nhật Bản đăng bài viết “Cục diện Mỹ lãnh đạo thế giới năm 2030 sẽ kết thúc” cho rằng, báo cáo ngày 10/12 của Ủy ban tình báo quốc gia Mỹ đã nhận định về tình hình thế giới trong 15-20 năm tới, dự đoán, thực lực kinh tế và quân sự của Mỹ sẽ giảm xuống một cách tương đối, trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ trỗi dậy, Mỹ có thể phát huy vai trò ảnh hưởng thế nào sẽ chi phối trật tự thế giới năm 2030.
20 năm tới sẽ là thời kỳ quá độ từ “một siêu cường (Mỹ) thống trị thế giới” sang “thời đại đa cực hóa”. Báo cáo bày tỏ mối lo ngại sâu sắc về việc sức mạnh quốc gia của Mỹ suy yếu sẽ làm cho thế giới rơi vào sự bất ổn nghiêm trọng hơn.
Báo cáo còn phân tích cho rằng, trong 15-20 năm tới, châu Á-Thái Bình Dương có thể xảy ra một sự việc - đó là một nước trỗi dậy về sức mạnh sẽ thay thế Mỹ và lãnh đạo xây dựng trật tự quốc tế mới. Các nước mới nổi như Trung Quốc tuy hoàn toàn không ưa gì trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, nhưng cũng được lợi rất lớn từ đó, dự kiến họ sẽ ưu tiên xem xét duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị.
Vì vậy, báo cáo chỉ ra, Mỹ rất có thể sẽ nhận được yêu cầu của các nước khác, tiếp tục can thiệp vào các cuộc xung đột và các vấn đề mang tính toàn cầu, nhưng thái độ hoàn toàn không dễ đoán.
Một khi các nước châu Á xảy ra cuộc xung đột dữ dội do các vấn đề như biển Đông, rất nhiều nước sẽ hy vọng Mỹ làm người “duy trì ổn định”, thậm chí đến Trung Quốc cũng có nhu cầu này. Vào năm 2030 xét tới sự thống nhất của bán đảo Triều Tiên, sự đối lập giữa Mỹ-Trung trong vấn đề Đài Loan, có thể còn cần có Mỹ “tiếp tục duy trì sự can thiệp ở cấp độ cao”.
Cũng trong ngày 12/12, tờ “Nezavisimaya Gazeta” Nga đã đăng bài viết “Trung Quốc không thể trở thành siêu cường” của tác giả Vladimir Skosyrev. Bài viết cho rằng, năm 2030, Trung Quốc có tiềm lực vươn lên thành nền kinh tế ở top đầu thế giới, nhưng danh hiệu “siêu cường” là điều mà Bắc Kinh không thể với tới. Bản báo cáo mang tên “Xu thế toàn cầu năm 2030” mới được công khai trước khi nhiệm kỳ 2 của ông Obama ra mắt, đã vẽ lên sự thay đổi to lớn sắp xảy ra trên thế giới.
Mặc dù Mỹ thụt lùi so với Trung Quốc là một việc khó nói trước, nhưng vai trò lãnh đạo thế giới của Washington vẫn có thể được bảo toàn, một trong những nguyên nhân chính là họ có thể tự cung cấp năng lượng. Báo cáo này chỉ ra, “quốc gia bá quyền sẽ không thể tái hiện, thế giới sẽ ngày càng có xu hướng đa cực hóa, thực lực sẽ chuyển dịch sang hệ thống mạng và liên minh”.
Đọc được báo cáo này có người vui có người lo, “trong lịch sử lần đầu tiên xuất hiện cục diện dưới đây, đó là đa số người sẽ không còn chịu cảnh nghèo đói, tầng lớp trung lưu trở thành lực lượng chính của xã hội hầu hết các nước”. Một mối nguy hiểm lớn khác là mâu thuẫn giữa những nước sở hữu hạt nhân, như Ấn Độ và Pakistan. Phải hòa giải những nguy cơ tương tự, Washington và Bắc Kinh phải xây dựng “quan hệ đối tác chính trị”.
Ấn Độ là quốc gia hạt nhân hiện đang đẩy mạnh phát triển tên lửa đạn đạo tầm xa có khả năng lắp nhiều đầu đạn hạt nhân.
Yakov Berger, chuyên gia Viện nghiên cứu Viễn Đông, Viện khoa học Nga cho rằng, bản báo cáo này “đã đưa ra đánh giá bảo thủ nhất đối với triển vọng đấu đá Mỹ-Trung”, một số chuyên gia khác cho rằng, thời gian Trung Quốc giằng co với Mỹ về tổng sản lượng kinh tế sẽ đến vào khoảng năm 2018 hoặc năm 2020.
Bởi vì, GDP hiện nay của Trung Quốc bằng một nửa của Mỹ, nếu như mấy năm tới vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 7-8%, và nền kinh tế Mỹ vẫn thiếu sức sống như cũ, thì đây là một khả năng.
Tuy nhiên, tiền đề của vấn đề này là sự phát triển kinh tế của Trung Quốc và toàn cầu luôn “thuận buồm xuôi gió”, không bị suy sụp, đồng thời cũng không có sự đột phá công nghệ quan trọng nào tương tự cuộc cách mạng khai thác khí nham thạch của Mỹ. Bởi vì, bất kỳ nhân tố nào nói trên đều có thể khiến cho Bắc Kinh nỗ lực theo đuổi ưu thế của Washington trở thành con số không.
Còn việc Trung Quốc và Mỹ có thể xây dựng được mối quan hệ đối tác là một điều không hề đơn giản. Trung Quốc và Mỹ lệ thuộc lẫn nhau, bất kể là về kinh tế hay nhân văn. Các doanh nhân Mỹ tích cực làm ăn ở Trung Quốc, trong khi đó Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều ở Mỹ. Con cháu của các quan chức Trung Quốc rất thích du học ở Mỹ.

Đại hội 18 Đảng Cộng sản tái khẳng định nguyên tắc chủ quyền, tức là kiên quyết bảo vệ cái gọi là "lợi ích cốt lõi", chủ trương xây dựng "cường quốc biển". Mọi động thái của Trung Quốc đều tập trung vào kiểm soát, chiếm hữu các vùng biển xung quanh, gây lo ngại cho các nước láng giềng. Họ mạnh bạo tiến hành các hoạt động trên biển Hoa Đông, biển Đông bất chấp sự phản đối của các nước.
Berger chỉ ra: “Đồng thời, mâu thuẫn giữa hai nước cũng ngày càng tăng lên. Mỹ không chịu lùi lại phía sau Trung Quốc, Trung Quốc lại hy vọng bỏ Mỹ ở lại phía sau.
Con đường của Bắc Kinh là, vừa không thể nhượng bộ đối với Washington, để Washington đụng đến lợi ích của Trung Quốc, vừa không thể để quan hệ song phương bị tan vỡ”.
Bản báo cáo này thừa nhận quan hệ Trung-Mỹ tồn tại mâu thuẫn, tranh chấp biển đảo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các cuộc chiến tranh mới.
Mặc dù các khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Trung Đông, Nam Á và Bắc Phi tồn tại khả năng bùng phát các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vị thế trong nền kinh tế thế giới của các nước như Brazil, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ từng bước tăng lên. Do vấn đề lão hóa dân số ngày càng nổi lên, Nga, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ “suy thoái từ từ” trong 20 năm tới.

Ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có chuyến thăm gây chú ý tới "Chiến khu Quảng Châu" và Hạm đội Nam Hải.
Nguồn: Báo Giáo Dục

Cuối tháng 11/2012, Bộ trưởng Hải quân Mỹ Ray Mabus thăm Trung Quốc, lên tham quan tàu bệnh viện Hòa Bình Phương Châu và tàu hộ vệ tên lửa Từ Châu - Hải quân Trung Quốc
Ngày 12/12, tờ “Yomiuri Shimbun” Nhật Bản đăng bài viết “Cục diện Mỹ lãnh đạo thế giới năm 2030 sẽ kết thúc” cho rằng, báo cáo ngày 10/12 của Ủy ban tình báo quốc gia Mỹ đã nhận định về tình hình thế giới trong 15-20 năm tới, dự đoán, thực lực kinh tế và quân sự của Mỹ sẽ giảm xuống một cách tương đối, trong bối cảnh Trung Quốc và Ấn Độ trỗi dậy, Mỹ có thể phát huy vai trò ảnh hưởng thế nào sẽ chi phối trật tự thế giới năm 2030.
20 năm tới sẽ là thời kỳ quá độ từ “một siêu cường (Mỹ) thống trị thế giới” sang “thời đại đa cực hóa”. Báo cáo bày tỏ mối lo ngại sâu sắc về việc sức mạnh quốc gia của Mỹ suy yếu sẽ làm cho thế giới rơi vào sự bất ổn nghiêm trọng hơn.
Báo cáo còn phân tích cho rằng, trong 15-20 năm tới, châu Á-Thái Bình Dương có thể xảy ra một sự việc - đó là một nước trỗi dậy về sức mạnh sẽ thay thế Mỹ và lãnh đạo xây dựng trật tự quốc tế mới. Các nước mới nổi như Trung Quốc tuy hoàn toàn không ưa gì trật tự thế giới do Mỹ lãnh đạo, nhưng cũng được lợi rất lớn từ đó, dự kiến họ sẽ ưu tiên xem xét duy trì tăng trưởng kinh tế và ổn định chính trị.
Vì vậy, báo cáo chỉ ra, Mỹ rất có thể sẽ nhận được yêu cầu của các nước khác, tiếp tục can thiệp vào các cuộc xung đột và các vấn đề mang tính toàn cầu, nhưng thái độ hoàn toàn không dễ đoán.
Một khi các nước châu Á xảy ra cuộc xung đột dữ dội do các vấn đề như biển Đông, rất nhiều nước sẽ hy vọng Mỹ làm người “duy trì ổn định”, thậm chí đến Trung Quốc cũng có nhu cầu này. Vào năm 2030 xét tới sự thống nhất của bán đảo Triều Tiên, sự đối lập giữa Mỹ-Trung trong vấn đề Đài Loan, có thể còn cần có Mỹ “tiếp tục duy trì sự can thiệp ở cấp độ cao”.
Cũng trong ngày 12/12, tờ “Nezavisimaya Gazeta” Nga đã đăng bài viết “Trung Quốc không thể trở thành siêu cường” của tác giả Vladimir Skosyrev. Bài viết cho rằng, năm 2030, Trung Quốc có tiềm lực vươn lên thành nền kinh tế ở top đầu thế giới, nhưng danh hiệu “siêu cường” là điều mà Bắc Kinh không thể với tới. Bản báo cáo mang tên “Xu thế toàn cầu năm 2030” mới được công khai trước khi nhiệm kỳ 2 của ông Obama ra mắt, đã vẽ lên sự thay đổi to lớn sắp xảy ra trên thế giới.
Mặc dù Mỹ thụt lùi so với Trung Quốc là một việc khó nói trước, nhưng vai trò lãnh đạo thế giới của Washington vẫn có thể được bảo toàn, một trong những nguyên nhân chính là họ có thể tự cung cấp năng lượng. Báo cáo này chỉ ra, “quốc gia bá quyền sẽ không thể tái hiện, thế giới sẽ ngày càng có xu hướng đa cực hóa, thực lực sẽ chuyển dịch sang hệ thống mạng và liên minh”.
Đọc được báo cáo này có người vui có người lo, “trong lịch sử lần đầu tiên xuất hiện cục diện dưới đây, đó là đa số người sẽ không còn chịu cảnh nghèo đói, tầng lớp trung lưu trở thành lực lượng chính của xã hội hầu hết các nước”. Một mối nguy hiểm lớn khác là mâu thuẫn giữa những nước sở hữu hạt nhân, như Ấn Độ và Pakistan. Phải hòa giải những nguy cơ tương tự, Washington và Bắc Kinh phải xây dựng “quan hệ đối tác chính trị”.
Yakov Berger, chuyên gia Viện nghiên cứu Viễn Đông, Viện khoa học Nga cho rằng, bản báo cáo này “đã đưa ra đánh giá bảo thủ nhất đối với triển vọng đấu đá Mỹ-Trung”, một số chuyên gia khác cho rằng, thời gian Trung Quốc giằng co với Mỹ về tổng sản lượng kinh tế sẽ đến vào khoảng năm 2018 hoặc năm 2020.
Bởi vì, GDP hiện nay của Trung Quốc bằng một nửa của Mỹ, nếu như mấy năm tới vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ 7-8%, và nền kinh tế Mỹ vẫn thiếu sức sống như cũ, thì đây là một khả năng.
Tuy nhiên, tiền đề của vấn đề này là sự phát triển kinh tế của Trung Quốc và toàn cầu luôn “thuận buồm xuôi gió”, không bị suy sụp, đồng thời cũng không có sự đột phá công nghệ quan trọng nào tương tự cuộc cách mạng khai thác khí nham thạch của Mỹ. Bởi vì, bất kỳ nhân tố nào nói trên đều có thể khiến cho Bắc Kinh nỗ lực theo đuổi ưu thế của Washington trở thành con số không.
Còn việc Trung Quốc và Mỹ có thể xây dựng được mối quan hệ đối tác là một điều không hề đơn giản. Trung Quốc và Mỹ lệ thuộc lẫn nhau, bất kể là về kinh tế hay nhân văn. Các doanh nhân Mỹ tích cực làm ăn ở Trung Quốc, trong khi đó Trung Quốc cũng đầu tư rất nhiều ở Mỹ. Con cháu của các quan chức Trung Quốc rất thích du học ở Mỹ.
Đại hội 18 Đảng Cộng sản tái khẳng định nguyên tắc chủ quyền, tức là kiên quyết bảo vệ cái gọi là "lợi ích cốt lõi", chủ trương xây dựng "cường quốc biển". Mọi động thái của Trung Quốc đều tập trung vào kiểm soát, chiếm hữu các vùng biển xung quanh, gây lo ngại cho các nước láng giềng. Họ mạnh bạo tiến hành các hoạt động trên biển Hoa Đông, biển Đông bất chấp sự phản đối của các nước.
Berger chỉ ra: “Đồng thời, mâu thuẫn giữa hai nước cũng ngày càng tăng lên. Mỹ không chịu lùi lại phía sau Trung Quốc, Trung Quốc lại hy vọng bỏ Mỹ ở lại phía sau.
Con đường của Bắc Kinh là, vừa không thể nhượng bộ đối với Washington, để Washington đụng đến lợi ích của Trung Quốc, vừa không thể để quan hệ song phương bị tan vỡ”.
Bản báo cáo này thừa nhận quan hệ Trung-Mỹ tồn tại mâu thuẫn, tranh chấp biển đảo ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương tiềm ẩn nguy cơ xảy ra các cuộc chiến tranh mới.
Mặc dù các khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Trung Đông, Nam Á và Bắc Phi tồn tại khả năng bùng phát các cuộc xung đột vũ trang, nhưng vị thế trong nền kinh tế thế giới của các nước như Brazil, Colombia, Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ sẽ từng bước tăng lên. Do vấn đề lão hóa dân số ngày càng nổi lên, Nga, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ “suy thoái từ từ” trong 20 năm tới.
Ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có chuyến thăm gây chú ý tới "Chiến khu Quảng Châu" và Hạm đội Nam Hải.
Nguồn: Báo Giáo Dục
Khám phá máy bay cánh bằng đáp xuống Trường Sa
17/12/2012- VN có nhiều máy bay có thể tới Trường Sa nhưng PZL M28 là loại máy bay cánh bằng duy nhất hạ cánh xuống sân bay TS.

Máy bay M28 do hãng PZL Mielec (Ba Lan) thiết kế sản xuất dựa trên máy bay Antonov An-28 (Liên Xô) dành cho nhiệm vụ vận tải, tuần tra biển, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn.

Theo một số nguồn tin, năm 2005 Việt Nam đã mua một vài chiếc PZL M28B-1R phục vụ cho công tác tuần tra, giám sát bảo vệ biển đảo, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn.

PZL M28 được thiết kế với một lớp cánh bằng kim loại với 2 động cơ trên cánh, 2 cánh đuôi thẳng đứng và một bộ bánh đáp không thể thụt vào. Phần đuôi có một cửa hàng để tải hàng hóa lớn khi cần. (nguồn: Airliners.net)

PZL M28 trang bị 2 động cơ tuốc bin cánh quạt Pratt & Whitney PT6A-65B cho phép đạt tốc độ tối đa 350km/h, tầm bay 1.365km, trần bay 7.620m. (nguồn: jetphotos.net)

Buồng lái hiện đại của PZL M28 với các màn hình tinh thể lỏng hiển thị thông số kỹ thuật bay (ảnh minh họa nước ngoài).

Khoang hàng của PZL M28 có thể chở 18 khách hoặc 12 lính hoặc 3 tấn hàng hóa các loại (ảnh minh họa nước ngoài)

PZL M28B-1R trang bị hệ thống radar tìm kiếm giám sát ARS-400 có tầm quét 160km, tìm kiếm đồng thời 30 mục tiêu trên biển và trên đất liền. (nguồn: Airliners.net)

Đặc điểm ưu việt của PZL M28 là máy bay có thể cất hạ cánh ở đường băng ngắn, hoạt động trên đường băng dã chiến. Trong quá trình hoạt động, PZL M28 từng đưa đoàn công tác bộ quốc phòng ra hạ cánh thành công xuống sân bay ở đảo Trường sa lớn (quần đảo Trường Sa) vào ngày 12/5/2005.
Kiến thức tổng hợp

Máy bay M28 do hãng PZL Mielec (Ba Lan) thiết kế sản xuất dựa trên máy bay Antonov An-28 (Liên Xô) dành cho nhiệm vụ vận tải, tuần tra biển, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn.

Theo một số nguồn tin, năm 2005 Việt Nam đã mua một vài chiếc PZL M28B-1R phục vụ cho công tác tuần tra, giám sát bảo vệ biển đảo, tìm kiếm cứu hộ cứu nạn.

PZL M28 được thiết kế với một lớp cánh bằng kim loại với 2 động cơ trên cánh, 2 cánh đuôi thẳng đứng và một bộ bánh đáp không thể thụt vào. Phần đuôi có một cửa hàng để tải hàng hóa lớn khi cần. (nguồn: Airliners.net)

PZL M28 trang bị 2 động cơ tuốc bin cánh quạt Pratt & Whitney PT6A-65B cho phép đạt tốc độ tối đa 350km/h, tầm bay 1.365km, trần bay 7.620m. (nguồn: jetphotos.net)

Buồng lái hiện đại của PZL M28 với các màn hình tinh thể lỏng hiển thị thông số kỹ thuật bay (ảnh minh họa nước ngoài).

Khoang hàng của PZL M28 có thể chở 18 khách hoặc 12 lính hoặc 3 tấn hàng hóa các loại (ảnh minh họa nước ngoài)

PZL M28B-1R trang bị hệ thống radar tìm kiếm giám sát ARS-400 có tầm quét 160km, tìm kiếm đồng thời 30 mục tiêu trên biển và trên đất liền. (nguồn: Airliners.net)

Đặc điểm ưu việt của PZL M28 là máy bay có thể cất hạ cánh ở đường băng ngắn, hoạt động trên đường băng dã chiến. Trong quá trình hoạt động, PZL M28 từng đưa đoàn công tác bộ quốc phòng ra hạ cánh thành công xuống sân bay ở đảo Trường sa lớn (quần đảo Trường Sa) vào ngày 12/5/2005.
Kiến thức tổng hợp
Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012
Báo Ấn Độ kêu gọi hỗ trợ quân sự cho Việt Nam
15/12/2012- Trong bài phân tích tổng quát về quan hệ đối tác chiến lược Việt-Ấn, mạng tin tức và phân tích Eurasia Review kêu gọi Ấn Độ tăng cường hỗ trợ quân sự cho Việt Nam. Dưới đây là một vài đoạn trích từ bài báo.
(Eurasia Review) Ấn Độ có một lợi ích chiến lược trong sự ổn định và an ninh của Việt Nam. Giới chức Ấn Độ cần phải biết rằng lợi ích và an ninh quốc gia của Ấn Độ được đảm bảo khi Việt Nam không dễ bị cưỡng ép và gây áp lực từ Trung Quốc.
Chủ trương ngoại giao của Ấn Độ như hiện nay sẽ không giúp xây dựng khả năng quân sự của Việt Nam để có thể ngăn sức ép chính trị và quân sự từ Trung Quốc. Ấn Độ cần phải tích cực tham gia vào việc xây dựng năng lực cho các lực lượng quân sự của Việt Nam
Cần phải nhấn mạnh rằng Việt Nam không phải là một nền kinh tế yếu và nước này có khả năng phát triển quân sự của chính mình. Ngoài ra, Việt Nam là một quốc gia dũng cảm đã chiến thắng các cường quốc quân sự hàng đầu thế giới hiện nay - Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia quân sự duy nhất đẩy lùi sự xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979 chỉ với lực lượng biên phòng của mình (*). Đó là dũng khí của quân đội Việt Nam.
Nga đã tham gia trong việc cung cấp khí tài quân sự tiên tiến cho Việt Nam, đặc biệt là tàu ngầm và bây giờ là hợp tác sản xuất tên lửa. Ấn Độ phải mở mắt trong việc Nga xây dựng năng lực quân sự cho Việt Nam mà thực tế là nhằm chống lại mối đe dọa của Trung Quốc. Nếu Nga có mối quan hệ chiến lược sâu sắc với Trung Quốc mà có thể xây dựng năng lực quân sự cho Việt Nam vậy thì tại sao Ấn Độ không làm như thế khi cả Ấn Độ và Việt Nam phải đối mặt với một mối đe dọa từ Trung Quốc ?
Ấn Độ phải mở rộng và đầu tư xây dựng năng lực cho Hải quân và Không quân Việt Nam - những lực lượng chính được yêu cầu để bảo vệ tự do hàng hải khỏi sự thống trị của Trung Quốc. Những tiến bộ trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo của Ấn Độ có thể giúp ích Việt Nam.
Theo tình hình năm 2012 với ngoại lệ của Trung Quốc, toàn bộ cộng đồng quốc tế hoan nghênh nếu Ấn Độ chuyển chiến lược của mình để bắt tay vào hỗ trợ Việt Nam xây dựng năng lực quân sự để kháng cự lại brinkmanship (**) quân sự của Trung Quốc.
Phải có chiến lược liên kết tất cả các nước ASEAN với Ấn Độ, mà Việt Nam có tiềm năng là một thế lực quân sự tiên phong chống lại Trung Quốc.
Việt Nam đã hỗ trợ Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế, cụ thể là ủng hộ Ấn Độ trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Cộng đồng kinh tế Châu Á Thái Bình Dương. Ấn Độ cũng phải dứt khoát trong chính sách trên Biển Đông với những kế hoạch và điều khoản rõ ràng chứ không phải chỉ là những báo cáo tổng quát như bảo vệ tự do hàng hải một cách chung chung.
Nguồn: Eurasia Review
(*): Khen quá mức chăng ?
(**): Là hành động nguy hiểm đẩy tình hình đến bờ vực thảm họa.
(Eurasia Review) Ấn Độ có một lợi ích chiến lược trong sự ổn định và an ninh của Việt Nam. Giới chức Ấn Độ cần phải biết rằng lợi ích và an ninh quốc gia của Ấn Độ được đảm bảo khi Việt Nam không dễ bị cưỡng ép và gây áp lực từ Trung Quốc.
Chủ trương ngoại giao của Ấn Độ như hiện nay sẽ không giúp xây dựng khả năng quân sự của Việt Nam để có thể ngăn sức ép chính trị và quân sự từ Trung Quốc. Ấn Độ cần phải tích cực tham gia vào việc xây dựng năng lực cho các lực lượng quân sự của Việt Nam
Cần phải nhấn mạnh rằng Việt Nam không phải là một nền kinh tế yếu và nước này có khả năng phát triển quân sự của chính mình. Ngoài ra, Việt Nam là một quốc gia dũng cảm đã chiến thắng các cường quốc quân sự hàng đầu thế giới hiện nay - Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia quân sự duy nhất đẩy lùi sự xâm lược của Trung Quốc vào năm 1979 chỉ với lực lượng biên phòng của mình (*). Đó là dũng khí của quân đội Việt Nam.
Nga đã tham gia trong việc cung cấp khí tài quân sự tiên tiến cho Việt Nam, đặc biệt là tàu ngầm và bây giờ là hợp tác sản xuất tên lửa. Ấn Độ phải mở mắt trong việc Nga xây dựng năng lực quân sự cho Việt Nam mà thực tế là nhằm chống lại mối đe dọa của Trung Quốc. Nếu Nga có mối quan hệ chiến lược sâu sắc với Trung Quốc mà có thể xây dựng năng lực quân sự cho Việt Nam vậy thì tại sao Ấn Độ không làm như thế khi cả Ấn Độ và Việt Nam phải đối mặt với một mối đe dọa từ Trung Quốc ?
Ấn Độ phải mở rộng và đầu tư xây dựng năng lực cho Hải quân và Không quân Việt Nam - những lực lượng chính được yêu cầu để bảo vệ tự do hàng hải khỏi sự thống trị của Trung Quốc. Những tiến bộ trong lĩnh vực tên lửa đạn đạo của Ấn Độ có thể giúp ích Việt Nam.
Theo tình hình năm 2012 với ngoại lệ của Trung Quốc, toàn bộ cộng đồng quốc tế hoan nghênh nếu Ấn Độ chuyển chiến lược của mình để bắt tay vào hỗ trợ Việt Nam xây dựng năng lực quân sự để kháng cự lại brinkmanship (**) quân sự của Trung Quốc.
Phải có chiến lược liên kết tất cả các nước ASEAN với Ấn Độ, mà Việt Nam có tiềm năng là một thế lực quân sự tiên phong chống lại Trung Quốc.
Việt Nam đã hỗ trợ Ấn Độ trong các vấn đề quốc tế, cụ thể là ủng hộ Ấn Độ trở thành thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và Cộng đồng kinh tế Châu Á Thái Bình Dương. Ấn Độ cũng phải dứt khoát trong chính sách trên Biển Đông với những kế hoạch và điều khoản rõ ràng chứ không phải chỉ là những báo cáo tổng quát như bảo vệ tự do hàng hải một cách chung chung.
Nguồn: Eurasia Review
(*): Khen quá mức chăng ?
(**): Là hành động nguy hiểm đẩy tình hình đến bờ vực thảm họa.
Liệu châu Á có thực sự đi đến chiến tranh vì những hòn đảo ?
15/12/2012- (The Economist) Tranh chấp xung quanh các quần đảo là một mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và sự thịnh vượng của khu vực.
Những nước châu Á đúng là không nhìn thấy cả thế giới trong một hạt cát, nhưng họ đã nhận ra được những mối đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia tại các bãi đá nổi và đá ngầm nhỏ bé rải rác xung quanh bờ biển của họ. Mùa Hè này đã chứng kiến một chuỗi những tranh chấp trên biển liên quan đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và Philíppin. Tháng 9/2012, đã xảy ra nhiều hơn những vụ nổi loạn chống Nhật tại các thành phố ở Trung Quốc do tranh chấp xung quanh một nhóm đảo không người ở mà người Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Toyota và Honda đã đóng cửa các nhà máy của mình. Giữa giọng điệu nóng nảy từ hai phía, một tờ báo Trung Quốc đã đề xuất đầy hữu ích rằng nên bỏ qua con đường ngoại giao vô nghĩa và tiến thẳng đến trọng tâm bằng cách mang đến cho Nhật Bản một quả bom nguyên tử.
May mắn thay, đó chỉ là một lời nói phóng đại kỳ cục: Chính quyền tại Bắc Kinh đang tìm cách giảm thiểu tranh chấp một cách muộn màng, nhận thức được những lợi ích kinh tế trong việc duy trì nền hòa bình, Điều này hoàn toàn nghe có vẻ rất hợp lý, cho đến khi người ta xét đến lịch sử – đặc biệt là mối tương đồng giữa sự trỗi dậy của Trung Quốc và của một nước Đức đế quốc trong một thế kỷ trước. Thời kỳ đó, không một ai ở châu Âu có được lợi ích kinh tế trong xung đột; nhưng Đức đã nhận thấy rằng thế giới quá chậm chạp đến nỗi không thể điều chỉnh cho phù hợp với sức mạnh đang ngày càng gia tăng của mình, và những cơn thịnh nộ, tàn bạo và phi lý như chủ nghĩa dân tộc được thiết lập. Trung Quốc lại đang nổi lên sau những điều mà nó coi là 150 năm nhục nhã, bị vây quanh bởi những nước láng giềng đầy băn khoăn, rất nhiều trong số đó là đồng minh của Mỹ. Trong bối cảnh đó, những tranh chấp về các cụm đá có thể trở nên quan trọng như cuộc mưu sát một đại công tước.
Một ngọn núi, hai con hổ
Những người lạc quan chỉ ra rằng cuộc xô xát gần đây nhất chủ yếu là một vở kịch chính trị – một sản phẩm của những cuộc bầu cử ở Nhật Bản và sự chuyển giao ban lãnh đạo ở Trung Quốc. Cuộc tranh cãi về đảo Senkaku đã lên đến đỉnh điểm vì Chính phủ Nhật Bản mua lại một vài hòn đảo từ các chủ sở hữu tư nhân Nhật Bản. Mục đích là để bảo vệ những đảo này khỏi bàn tay tinh ranh của thị trưởng Tôkyô có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, người cũng muốn tự mình mua lại những hòn đảo này. Mặc dù vậy, Trung Quốc đã bị xúc phạm. Nước này đã củng cố lời tuyên bố chủ quyền của mình và nhiều lần phái tàu tuần tra đi xâm lấn lãnh hải của Nhật Bản. Điều đó đã củng cố thêm hình ảnh của ban lãnh đạo, ngay trước khi ông Tập Cận Bình nhậm chức.
Nhìn chung, những người lạc quan lập luận rằng châu Á đang quá bận kiếm tiền đến mức không có thời gian để gây chiến. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Khách du lịch Trung Quốc nườm nượp kéo đến Tôkyô để chộp mua ngay những chiếc túi xách và quần áo thiết kế được trưng bày tại các tủ kính cửa hàng ở Omotesando. Trung Quốc không thích thú gì với sự bành trướng lãnh thổ. Dù thế nào đi chăng nữa, Chính phủ Trung Quốc đã gặp đủ vấn đề trong nước rồi: vậy tại sao nước này phải tìm kiếm thêm những rắc rối ở ngoài nước?
Châu Á quả thực có lý do để duy trì cho những mối quan hệ tốt đẹp và cuộc tranh cãi không đâu gần đây nhất có thể sẽ dịu đi, như những cuộc tranh cãi khác đã từng xảy ra trong quá khứ. Nhưng mỗi khi một vụ tranh cãi về hòn đảo bùng lên thì thái độ lại trở nên cứng rắn và niềm tin bị xói mòn. Hai năm trước, khi Nhật Bản bắt giừ thuyền trưởng của một tàu cá Trung Quốc vì đâm vào một tàu ngay sát quần đảo này, thì Nhật Bản đã nhận ra hành động trả đũa khi Trung Quốc hạn chế việc bán đất hiếm cần thiết cho nền công nghiệp của nước này.
Chủ nghĩa dân tộc đang ngày càng gia tăng ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã làm trầm trọng thêm mối đe dọa này. Bất kể tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này là gì đi chăng nữa, thì gốc rễ của nó vẫn nằm ở công cuộc xây dựng đế chế đầy tàn bạo. Giới truyền thông ở các nước đã lợi dụng thành kiến vốn đã thường xuyên được khắc sâu ở các trường học. Góp phần tạo ra chủ nghĩa dân tộc và tận dụng khi nó phù hợp với mình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây phải đối mặt với lời chỉ trích cay độc nếu họ không đấu tranh vì một phần của đất nước mình. Một cuộc thăm dò gần đây đã cho thấy rằng chỉ hơn một nửa người dân Trung Quốc nghĩ rằng trong một vài năm tới sẽ chứng kiến một “cuộc tranh chấp quân sự” với Nhật Bản.
Do đó, những quần đảo này có ý nghĩa ít vì việc đánh bắt cá, dầu mỏ hay khí đốt hơn những toan tính trong một trò chơi đặt cược cao cho tương lai của châu Á. Tất cả các sự kiện, dù nhỏ cũng đều có nguy cơ thiết lập nên một tiền lệ. Nhật Bản, Việt Nam và Philíppin đều lo sợ rằng nếu họ nhượng bộ thì Trung Quốc sẽ cảm nhận được điểm yếu và chuẩn bị cho một yêu sách tiếp theo. Trung Quốc lo sợ rằng nếu nước này thất bại trong việc thúc đẩy lý lẽ của mình thì Mỹ và những nước khác sẽ kết luận rằng họ được tự do âm mưu chống lại Trung Quốc.
Hợp tác và răn đe
Việc châu Á không có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến những hòn đảo đã đặt ra những nghi ngờ về việc khu vực này sẽ đối phó với một cuộc khủng hoảng thật sự trên bán đảo Triều Tiên và hai bờ eo biển Đài Loan như thế nào. Việc Trung Quốc ngày càng thích cư xử một cách kiêu căng hùng hổ nuôi dưỡng những điều không chắc chắn đã ăn sâu về cách mà nước này sẽ hành xử với tư cách một cường quốc chi phối. Và xu hướng sự bất hòa nhỏ nhặt nhất leo thang trở thành một cuộc cãi cọ bùng nổ mạnh mẽ là những vấn đề cho Mỹ, mà vừa nhằm làm yên lòng Trung Quốc rằng Mỹ hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc vừa sử dụng mối đe dọa về sức mạnh quân sự để đảm bảo ràng Thái Bình Dương xứng đáng với cái tên của mình.
Một số giải pháp sẽ mất cả một thế hệ. Các chính trị gia châu Á phải bắt đầu nhổ chiếc răng nọc của những con rắn dân tộc chủ nghĩa mà họ đã nuôi dưỡng, những cuốn sách giáo khoa chân thực sẽ giúp được nhiều điều. Trong những thập kỷ tới, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ vẫn là điểm trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Sự chuyển hướng” của Barack Obama sang châu Á là một khởi đầu hiệu quả trong việc thể hiện cam kết của Mỹ với các đồng minh của mình. Nhưng Trung Quốc cần tái đảm bảo rằng thay vì nỗ lực kiềm chế Trung Quốc như Anh đã làm trong thế kỷ 19 với Đức, Mỹ mong muốn một Trung Quốc có trách nhiệm để hiện thực hóa tiềm năng của nước này với tư cách một cường quốc thế giới. Một sự phàn nàn gay gắt về chính trị lên WTO sẽ thêm vào những lo lắng của Trung Quốc.
Do những căng thẳng liên quan đến quần đảo này và những phiên bản lịch sử không thể hòa giải của châu Á, 3 biện pháp bảo vệ ngay lập tức là cần thiết. Một là hạn chế cơ hội để những rủi ro có thể leo thang thành khủng hoảng. Một sự xung đột trên biển sẽ ít gây lúng túng hơn nếu một bộ quy tắc ứng xử quy định các tàu nên cư xử như thế nào và phải làm gì sau một vụ tai nạn. Các chính phủ sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với nhau trong các tình huống khẩn cấp nếu họ thường xuyên làm việc với nhau trong các tổ chức khu vực. Tuy nhiên, rất nhiều diễn đàn của châu Á thiếu tầm ảnh hưởng bởi vì không nước nào sẵn sàng nhượng quyền lại cho các diễn đàn này.
Biện pháp bảo vệ thứ hai là tìm ra lại những cách thức để giải quyết những tranh chấp về chủ quyền, mà không gây tổn hại gì. Chủ tịch Tập Cận Bình nên nhìn vào thành công của người tiền nhiệm của mình, Hồ cẩm Đào, người đã gác “vấn đề Đài Loan” sang một bên. Với quần đảo Senkaku (mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền), cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều vui vẻ để lại vấn đề chủ quyền cho thế hệ sau quyết định. Điều đó thậm chí còn có ý nghĩa hơn nếu các nguồn lực trên quần đảo này đáng giá một điều gì đó: thậm chí các công ty nhà nước còn sẽ lưỡng lự khi đặt những giàn khoan dầu của mình trước nguy cơ của một cuộc tấn công về quân sự. Một khi các tuyên bố chủ quyền được giải quyết, các nước có thể bắt đầu phân chia những nguồn lực – thậm chí khả quan hơn, có thể tuyên bố quần đảo và vùng lãnh hải của mình là một khu bảo tồn thiên nhiên trên biển.
Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều có thể được giải quyết bằng sự hợp tác và vì vậy biện pháp bảo vệ thứ 3 là tăng cường sự răn đe. Với quần đảo Senkaku, Mỹ đã rõ ràng: mặc dù nước này không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền, nhưng quần đảo này do Nhật Bản quản lý và vì vậy nằm dưới sự bảo vệ của Nhật Bản. Điều này đã củng cố thêm sự ổn định bởi vì Mỹ sẽ sử dụng uy tín ngoại giao của mình để chấm dứt tranh chấp đang leo thang và Trung Quốc biết là nước này không thể xâm lược. Tuy nhiên, cam kết của ông Obama với các hòn đảo khác ở châu Á lại không rõ ràng.
Vai trò của Trung Quốc thậm chí còn trung tâm hơn. Các nhà lãnh đạo nước này nhấn mạnh rằng sức mạnh ngày càng tăng không đại diện cho bất cứ một mối đe dọa nào đối với các nước láng giềng. Họ cũng quả quyết rằng họ hiểu lịch sử. Một thế kỷ trước ở châu Âu, những năm tháng hòa bình và quá trình toàn cầu hóa đã thu hút các nhà lãnh đạo nghĩ rằng họ có thể đùa với những ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa mà không có nguy cơ xung đột lớn. Sau mùa Hè này, Ông Tập Cận Bình và những người láng giềng cần phải hiểu được những quần đảo này trên thực tế đang gây ra thiệt hại lớn đến mức nào. Châu Á cần phải thoát khỏi một tình trạng tụt dốc dẫn đến sự mất lòng tin gây xói mòn. Vậy đâu là cách thức tốt hơn để Trung Quốc thể hiện rằng đó là lòng chân thành về một sự trỗi dậy hòa bình thay vì giành lấy vị trí lãnh đạo?./.
Thông tấn xã Việt Nam
Những nước châu Á đúng là không nhìn thấy cả thế giới trong một hạt cát, nhưng họ đã nhận ra được những mối đe dọa nghiêm trọng đến lợi ích quốc gia tại các bãi đá nổi và đá ngầm nhỏ bé rải rác xung quanh bờ biển của họ. Mùa Hè này đã chứng kiến một chuỗi những tranh chấp trên biển liên quan đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Đài Loan và Philíppin. Tháng 9/2012, đã xảy ra nhiều hơn những vụ nổi loạn chống Nhật tại các thành phố ở Trung Quốc do tranh chấp xung quanh một nhóm đảo không người ở mà người Nhật gọi là Senkaku và Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Toyota và Honda đã đóng cửa các nhà máy của mình. Giữa giọng điệu nóng nảy từ hai phía, một tờ báo Trung Quốc đã đề xuất đầy hữu ích rằng nên bỏ qua con đường ngoại giao vô nghĩa và tiến thẳng đến trọng tâm bằng cách mang đến cho Nhật Bản một quả bom nguyên tử.
May mắn thay, đó chỉ là một lời nói phóng đại kỳ cục: Chính quyền tại Bắc Kinh đang tìm cách giảm thiểu tranh chấp một cách muộn màng, nhận thức được những lợi ích kinh tế trong việc duy trì nền hòa bình, Điều này hoàn toàn nghe có vẻ rất hợp lý, cho đến khi người ta xét đến lịch sử – đặc biệt là mối tương đồng giữa sự trỗi dậy của Trung Quốc và của một nước Đức đế quốc trong một thế kỷ trước. Thời kỳ đó, không một ai ở châu Âu có được lợi ích kinh tế trong xung đột; nhưng Đức đã nhận thấy rằng thế giới quá chậm chạp đến nỗi không thể điều chỉnh cho phù hợp với sức mạnh đang ngày càng gia tăng của mình, và những cơn thịnh nộ, tàn bạo và phi lý như chủ nghĩa dân tộc được thiết lập. Trung Quốc lại đang nổi lên sau những điều mà nó coi là 150 năm nhục nhã, bị vây quanh bởi những nước láng giềng đầy băn khoăn, rất nhiều trong số đó là đồng minh của Mỹ. Trong bối cảnh đó, những tranh chấp về các cụm đá có thể trở nên quan trọng như cuộc mưu sát một đại công tước.
Một ngọn núi, hai con hổ
Những người lạc quan chỉ ra rằng cuộc xô xát gần đây nhất chủ yếu là một vở kịch chính trị – một sản phẩm của những cuộc bầu cử ở Nhật Bản và sự chuyển giao ban lãnh đạo ở Trung Quốc. Cuộc tranh cãi về đảo Senkaku đã lên đến đỉnh điểm vì Chính phủ Nhật Bản mua lại một vài hòn đảo từ các chủ sở hữu tư nhân Nhật Bản. Mục đích là để bảo vệ những đảo này khỏi bàn tay tinh ranh của thị trưởng Tôkyô có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, người cũng muốn tự mình mua lại những hòn đảo này. Mặc dù vậy, Trung Quốc đã bị xúc phạm. Nước này đã củng cố lời tuyên bố chủ quyền của mình và nhiều lần phái tàu tuần tra đi xâm lấn lãnh hải của Nhật Bản. Điều đó đã củng cố thêm hình ảnh của ban lãnh đạo, ngay trước khi ông Tập Cận Bình nhậm chức.
Nhìn chung, những người lạc quan lập luận rằng châu Á đang quá bận kiếm tiền đến mức không có thời gian để gây chiến. Trung Quốc hiện nay là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản. Khách du lịch Trung Quốc nườm nượp kéo đến Tôkyô để chộp mua ngay những chiếc túi xách và quần áo thiết kế được trưng bày tại các tủ kính cửa hàng ở Omotesando. Trung Quốc không thích thú gì với sự bành trướng lãnh thổ. Dù thế nào đi chăng nữa, Chính phủ Trung Quốc đã gặp đủ vấn đề trong nước rồi: vậy tại sao nước này phải tìm kiếm thêm những rắc rối ở ngoài nước?
Châu Á quả thực có lý do để duy trì cho những mối quan hệ tốt đẹp và cuộc tranh cãi không đâu gần đây nhất có thể sẽ dịu đi, như những cuộc tranh cãi khác đã từng xảy ra trong quá khứ. Nhưng mỗi khi một vụ tranh cãi về hòn đảo bùng lên thì thái độ lại trở nên cứng rắn và niềm tin bị xói mòn. Hai năm trước, khi Nhật Bản bắt giừ thuyền trưởng của một tàu cá Trung Quốc vì đâm vào một tàu ngay sát quần đảo này, thì Nhật Bản đã nhận ra hành động trả đũa khi Trung Quốc hạn chế việc bán đất hiếm cần thiết cho nền công nghiệp của nước này.
Chủ nghĩa dân tộc đang ngày càng gia tăng ở châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, đã làm trầm trọng thêm mối đe dọa này. Bất kể tính hợp pháp của tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản đối với quần đảo này là gì đi chăng nữa, thì gốc rễ của nó vẫn nằm ở công cuộc xây dựng đế chế đầy tàn bạo. Giới truyền thông ở các nước đã lợi dụng thành kiến vốn đã thường xuyên được khắc sâu ở các trường học. Góp phần tạo ra chủ nghĩa dân tộc và tận dụng khi nó phù hợp với mình, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây phải đối mặt với lời chỉ trích cay độc nếu họ không đấu tranh vì một phần của đất nước mình. Một cuộc thăm dò gần đây đã cho thấy rằng chỉ hơn một nửa người dân Trung Quốc nghĩ rằng trong một vài năm tới sẽ chứng kiến một “cuộc tranh chấp quân sự” với Nhật Bản.
Do đó, những quần đảo này có ý nghĩa ít vì việc đánh bắt cá, dầu mỏ hay khí đốt hơn những toan tính trong một trò chơi đặt cược cao cho tương lai của châu Á. Tất cả các sự kiện, dù nhỏ cũng đều có nguy cơ thiết lập nên một tiền lệ. Nhật Bản, Việt Nam và Philíppin đều lo sợ rằng nếu họ nhượng bộ thì Trung Quốc sẽ cảm nhận được điểm yếu và chuẩn bị cho một yêu sách tiếp theo. Trung Quốc lo sợ rằng nếu nước này thất bại trong việc thúc đẩy lý lẽ của mình thì Mỹ và những nước khác sẽ kết luận rằng họ được tự do âm mưu chống lại Trung Quốc.
Hợp tác và răn đe
Việc châu Á không có khả năng giải quyết các vấn đề liên quan đến những hòn đảo đã đặt ra những nghi ngờ về việc khu vực này sẽ đối phó với một cuộc khủng hoảng thật sự trên bán đảo Triều Tiên và hai bờ eo biển Đài Loan như thế nào. Việc Trung Quốc ngày càng thích cư xử một cách kiêu căng hùng hổ nuôi dưỡng những điều không chắc chắn đã ăn sâu về cách mà nước này sẽ hành xử với tư cách một cường quốc chi phối. Và xu hướng sự bất hòa nhỏ nhặt nhất leo thang trở thành một cuộc cãi cọ bùng nổ mạnh mẽ là những vấn đề cho Mỹ, mà vừa nhằm làm yên lòng Trung Quốc rằng Mỹ hoan nghênh sự trỗi dậy của Trung Quốc vừa sử dụng mối đe dọa về sức mạnh quân sự để đảm bảo ràng Thái Bình Dương xứng đáng với cái tên của mình.
Một số giải pháp sẽ mất cả một thế hệ. Các chính trị gia châu Á phải bắt đầu nhổ chiếc răng nọc của những con rắn dân tộc chủ nghĩa mà họ đã nuôi dưỡng, những cuốn sách giáo khoa chân thực sẽ giúp được nhiều điều. Trong những thập kỷ tới, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ vẫn là điểm trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Sự chuyển hướng” của Barack Obama sang châu Á là một khởi đầu hiệu quả trong việc thể hiện cam kết của Mỹ với các đồng minh của mình. Nhưng Trung Quốc cần tái đảm bảo rằng thay vì nỗ lực kiềm chế Trung Quốc như Anh đã làm trong thế kỷ 19 với Đức, Mỹ mong muốn một Trung Quốc có trách nhiệm để hiện thực hóa tiềm năng của nước này với tư cách một cường quốc thế giới. Một sự phàn nàn gay gắt về chính trị lên WTO sẽ thêm vào những lo lắng của Trung Quốc.
Do những căng thẳng liên quan đến quần đảo này và những phiên bản lịch sử không thể hòa giải của châu Á, 3 biện pháp bảo vệ ngay lập tức là cần thiết. Một là hạn chế cơ hội để những rủi ro có thể leo thang thành khủng hoảng. Một sự xung đột trên biển sẽ ít gây lúng túng hơn nếu một bộ quy tắc ứng xử quy định các tàu nên cư xử như thế nào và phải làm gì sau một vụ tai nạn. Các chính phủ sẽ thấy dễ dàng hơn khi làm việc với nhau trong các tình huống khẩn cấp nếu họ thường xuyên làm việc với nhau trong các tổ chức khu vực. Tuy nhiên, rất nhiều diễn đàn của châu Á thiếu tầm ảnh hưởng bởi vì không nước nào sẵn sàng nhượng quyền lại cho các diễn đàn này.
Biện pháp bảo vệ thứ hai là tìm ra lại những cách thức để giải quyết những tranh chấp về chủ quyền, mà không gây tổn hại gì. Chủ tịch Tập Cận Bình nên nhìn vào thành công của người tiền nhiệm của mình, Hồ cẩm Đào, người đã gác “vấn đề Đài Loan” sang một bên. Với quần đảo Senkaku (mà Đài Loan cũng tuyên bố chủ quyền), cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều vui vẻ để lại vấn đề chủ quyền cho thế hệ sau quyết định. Điều đó thậm chí còn có ý nghĩa hơn nếu các nguồn lực trên quần đảo này đáng giá một điều gì đó: thậm chí các công ty nhà nước còn sẽ lưỡng lự khi đặt những giàn khoan dầu của mình trước nguy cơ của một cuộc tấn công về quân sự. Một khi các tuyên bố chủ quyền được giải quyết, các nước có thể bắt đầu phân chia những nguồn lực – thậm chí khả quan hơn, có thể tuyên bố quần đảo và vùng lãnh hải của mình là một khu bảo tồn thiên nhiên trên biển.
Nhưng không phải tất cả mọi thứ đều có thể được giải quyết bằng sự hợp tác và vì vậy biện pháp bảo vệ thứ 3 là tăng cường sự răn đe. Với quần đảo Senkaku, Mỹ đã rõ ràng: mặc dù nước này không đứng về bên nào trong vấn đề chủ quyền, nhưng quần đảo này do Nhật Bản quản lý và vì vậy nằm dưới sự bảo vệ của Nhật Bản. Điều này đã củng cố thêm sự ổn định bởi vì Mỹ sẽ sử dụng uy tín ngoại giao của mình để chấm dứt tranh chấp đang leo thang và Trung Quốc biết là nước này không thể xâm lược. Tuy nhiên, cam kết của ông Obama với các hòn đảo khác ở châu Á lại không rõ ràng.
Vai trò của Trung Quốc thậm chí còn trung tâm hơn. Các nhà lãnh đạo nước này nhấn mạnh rằng sức mạnh ngày càng tăng không đại diện cho bất cứ một mối đe dọa nào đối với các nước láng giềng. Họ cũng quả quyết rằng họ hiểu lịch sử. Một thế kỷ trước ở châu Âu, những năm tháng hòa bình và quá trình toàn cầu hóa đã thu hút các nhà lãnh đạo nghĩ rằng họ có thể đùa với những ngọn lửa dân tộc chủ nghĩa mà không có nguy cơ xung đột lớn. Sau mùa Hè này, Ông Tập Cận Bình và những người láng giềng cần phải hiểu được những quần đảo này trên thực tế đang gây ra thiệt hại lớn đến mức nào. Châu Á cần phải thoát khỏi một tình trạng tụt dốc dẫn đến sự mất lòng tin gây xói mòn. Vậy đâu là cách thức tốt hơn để Trung Quốc thể hiện rằng đó là lòng chân thành về một sự trỗi dậy hòa bình thay vì giành lấy vị trí lãnh đạo?./.
Thông tấn xã Việt Nam
Thế giới choáng váng với chương trình chế tạo máy bay của TQ
15/12/2012- TPO - Trung Quốc không chỉ là nước duy nhất trên thế giới đồng thời thực hiện hai chương trình chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, mà có dự án chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6.
Trước đây, sự tồn tại của các dự án này chỉ là chủ đề của những đồn đoán. Tuy nhiên, gần đây, báo chí Trung Quốc đã xác nhận sự tồn tại của các chương trình này. Có khả năng hoạt động quy mô đầy đủ chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu sẽ bắt đầu trong thập kỷ tới - chuyên gia của Trung tâm Phân tích Chiến lược và Công nghệ Vasily Kashin cho biết.
Tháng trước, báo chí chính thức của Trung Quốc đã có những bằng chứng hiếm hoi về sự tồn tại của chương trình. Báo Công nghiệp Trung Quốc tháng 11-2012 đề cập tới việc áp dụng máy tính thiết kế hiện đại trong Tập đoàn công nghiệp chế tạo máy bay Thẩm Dương, theo đó Trung Quốc đã đưa ra nền tảng thiết kế tự động chế tạo máy bay thế hệ thứ sáu.
Nếu máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm, giới chuyên nghiệp đề ra tập hợp các tiêu chuẩn, chẳng hạn như tính tàng hình, khả năng siêu cơ động và tốc độ bay siêu âm, thì máy bay thế hệ thứ sáu không có tiêu chí thống nhất.
Theo giải thích của ông Vasily Kashin, chuyên gia Nga về các vấn đề quốc phòng, hiện tại Mỹ và Pháp đang nghiên cứu lập ra khái niệm thiết kế hệ thống như vậy. Đặc biệt, năm ngoái công ty Lockheed Martin đã giới thiệu hình ảnh của chiếc máy bay trong tương lai. Pháp quyết định không tham gia chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm, mà thay vào đó tập trung nguồn lực để thiết kế máy bay thế hệ thứ sáu.
Có giả định rằng máy bay thế hệ thứ sáu sẽ không có người lái và có thể được trang bị các loại vũ khí mới, bao gồm súng điện và laser. Chúng sẽ có tốc độ bay thậm chí lớn hơn nhiều so với máy bay thế hệ thứ năm.
Tuy nhiên, ngay cả ở Mỹ, quá trình chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6 vẫn còn ở giai đoạn đầu tiên nghiên cứu yêu cầu kỹ thuật và các phương pháp tiếp cận cơ bản để thiết kế các máy bay chiến đấu như vậy.
Không quân và Hải quân Mỹ cũng đang làm việc theo hướng này. Giả định rằng những chiếc máy bay thế hệ thứ 6 sẽ ra đời không sớm hơn mốc 2030, và có khả năng nhất là trong khoảng 2040 - 2050.
Có khả năng là các nghiên cứu theo hướng này của Trung Quốc không chỉ được tiến hành ở Thẩm Dương, mà cả tại trung tâm chế tạo máy bay thứ hai ở Thành Đô. Tuy nhiên, giới quân sự thậm chí hiện biết rất ít về các yêu cầu đối với máy bay quân sự thế hệ thứ sáu của Trung Quốc, so với các dự án tương tự ở phương Tây.
Chương trình chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu, cùng với 2 chương trình chế tạo máy bay thế hệ 5 còn có chứng cớ xác nhận khác là Trung Quốc có kế hoạch trong tương lai trở thành siêu cường quân sự ngang với Mỹ, và trong một số khía cạnh thì vượt Mỹ, chuyên gia Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ, ông Vasily Kashin ghi nhận.
Nếu như máy bay thế hệ thứ năm vẫn có nhiều điều cần hoàn thiện thì máy bay thế hệ sáu, nếu nó thực sự sẽ sử dụng vật liệu mới và vũ khí dựa trên các nguyên tắc vật lý mới sẽ đòi hỏi phải huy động tất cả các tiềm năng khoa học và công nghệ của cả nước.
Có khả năng là việc chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu sẽ chỉ bắt đầu tiến hành trong thập kỷ tới. Thành công của Trung Quốc trong cuộc thi này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách hiện nay là hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và cải cách các trường đại học, cũng như cải cách tình trạng các ngành công nghiệp cơ bản như luyện kim, vật liệu tổng hợp hàng không, điện tử…
Theo Tiếng nói nước Nga
Trước đây, sự tồn tại của các dự án này chỉ là chủ đề của những đồn đoán. Tuy nhiên, gần đây, báo chí Trung Quốc đã xác nhận sự tồn tại của các chương trình này. Có khả năng hoạt động quy mô đầy đủ chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu sẽ bắt đầu trong thập kỷ tới - chuyên gia của Trung tâm Phân tích Chiến lược và Công nghệ Vasily Kashin cho biết.
Tháng trước, báo chí chính thức của Trung Quốc đã có những bằng chứng hiếm hoi về sự tồn tại của chương trình. Báo Công nghiệp Trung Quốc tháng 11-2012 đề cập tới việc áp dụng máy tính thiết kế hiện đại trong Tập đoàn công nghiệp chế tạo máy bay Thẩm Dương, theo đó Trung Quốc đã đưa ra nền tảng thiết kế tự động chế tạo máy bay thế hệ thứ sáu.
Nếu máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm, giới chuyên nghiệp đề ra tập hợp các tiêu chuẩn, chẳng hạn như tính tàng hình, khả năng siêu cơ động và tốc độ bay siêu âm, thì máy bay thế hệ thứ sáu không có tiêu chí thống nhất.
Theo giải thích của ông Vasily Kashin, chuyên gia Nga về các vấn đề quốc phòng, hiện tại Mỹ và Pháp đang nghiên cứu lập ra khái niệm thiết kế hệ thống như vậy. Đặc biệt, năm ngoái công ty Lockheed Martin đã giới thiệu hình ảnh của chiếc máy bay trong tương lai. Pháp quyết định không tham gia chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm, mà thay vào đó tập trung nguồn lực để thiết kế máy bay thế hệ thứ sáu.
Có giả định rằng máy bay thế hệ thứ sáu sẽ không có người lái và có thể được trang bị các loại vũ khí mới, bao gồm súng điện và laser. Chúng sẽ có tốc độ bay thậm chí lớn hơn nhiều so với máy bay thế hệ thứ năm.
Tuy nhiên, ngay cả ở Mỹ, quá trình chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ 6 vẫn còn ở giai đoạn đầu tiên nghiên cứu yêu cầu kỹ thuật và các phương pháp tiếp cận cơ bản để thiết kế các máy bay chiến đấu như vậy.
Không quân và Hải quân Mỹ cũng đang làm việc theo hướng này. Giả định rằng những chiếc máy bay thế hệ thứ 6 sẽ ra đời không sớm hơn mốc 2030, và có khả năng nhất là trong khoảng 2040 - 2050.
Có khả năng là các nghiên cứu theo hướng này của Trung Quốc không chỉ được tiến hành ở Thẩm Dương, mà cả tại trung tâm chế tạo máy bay thứ hai ở Thành Đô. Tuy nhiên, giới quân sự thậm chí hiện biết rất ít về các yêu cầu đối với máy bay quân sự thế hệ thứ sáu của Trung Quốc, so với các dự án tương tự ở phương Tây.
Chương trình chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu, cùng với 2 chương trình chế tạo máy bay thế hệ 5 còn có chứng cớ xác nhận khác là Trung Quốc có kế hoạch trong tương lai trở thành siêu cường quân sự ngang với Mỹ, và trong một số khía cạnh thì vượt Mỹ, chuyên gia Trung tâm phân tích chiến lược và công nghệ, ông Vasily Kashin ghi nhận.
Nếu như máy bay thế hệ thứ năm vẫn có nhiều điều cần hoàn thiện thì máy bay thế hệ sáu, nếu nó thực sự sẽ sử dụng vật liệu mới và vũ khí dựa trên các nguyên tắc vật lý mới sẽ đòi hỏi phải huy động tất cả các tiềm năng khoa học và công nghệ của cả nước.
Có khả năng là việc chế tạo máy bay chiến đấu thế hệ thứ sáu sẽ chỉ bắt đầu tiến hành trong thập kỷ tới. Thành công của Trung Quốc trong cuộc thi này sẽ phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách hiện nay là hỗ trợ nghiên cứu cơ bản và cải cách các trường đại học, cũng như cải cách tình trạng các ngành công nghiệp cơ bản như luyện kim, vật liệu tổng hợp hàng không, điện tử…
Theo Tiếng nói nước Nga
Thứ Sáu, 14 tháng 12, 2012
Quân đội Trung Quốc nhận lệnh sẵn sàng chiến đấu
13/12/2012- Các quan chức ngoại giao và quốc phòng cấp cao của Mỹ và Philippines mấy ngày nay đang bàn bạc về việc tăng số lượng tàu chiến, máy bay và binh lính Mỹ đóng luân phiên tại Philippines. Trong khi đó, Trung Quốc ra lệnh cho quân đội chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc đấu tranh. Các động thái trên của Manila và Bắc Kinh diễn ra trong bối cảnh hai nước đang có cuộc tranh chấp lãnh thổ nóng bỏng ở Biển Đông.
Các quan chức cấp cao Mỹ và Philippines hôm qua (12/12) đã có cuộc gặp ở thủ đô Manila để thảo luận về việc tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác hàng hải, quốc phòng, an ninh và kinh tế. Giới quan chức quân sự và ngoại giao Philippines cho biết, họ chờ đợi thêm nhiều tàu, máy bay và binh lính Mỹ đến nước họ tập trận và tham gia các chiến dịch nhân đạo cũng như cứu trợ thảm họa.
"Những gì mà chúng tôi đang thỏa luận là tăng cường sự hiện diện luân phiên của các lực lượng Mỹ”, ông Carlos Sorreta – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, cho các phóng viên biết. Theo tiết lộ của ông Sorreta, Mỹ và Philippines sẽ phê chuẩn một kế hoạch tập trận chung 5 năm trong tuần này.
Hiện tại, quy mô của việc tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Philippines vẫn chưa được quyết định. Thứ trưởng Quốc phòng Philippines – ông Pio Lorenzo Batino cho biết, hai nước sẽ có “nhiều cuộc thảo luận” về một khung quy chế mới cho phép Washington đưa thêm nhiều thiết bị quân sự vào Philippines.
"Hiện chúng tôi chưa thảo luận những chi tiết cụ thể... Những vấn đề đó sẽ được quyết định bởi các nhóm làm việc”, Thứ trưởng Batino cho biết tại một cuộc họp báo.
Trong khi đó, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Kurt Campbell cho biết, mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines đang trong “thời kỳ phục hưng”.
Philippines cho biết, họ muốn được chuẩn bị ở một tư thế tốt hơn để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Một quan chức ngoại giao Philippines hồi đầu tuần này đã khẳng định, Manila coi Mỹ như là một bên có thể giúp họ có được vị thế, tư thế tốt hơn như mong muốn. Trong khi Mỹ tuyên bố duy trì lập trường trung lập trong các tranh chấp ở Biển Đông thì nước này vẫn đưa ra những tư vấn về quốc phòng cho Philippines theo Thỏa thuận Quốc phòng Chung mà hai nước đã ký với nhau.
Việc Mỹ đẩy mạnh sự hiện diện quân sự ở Philippines diễn ra trong bối cảnh Australia và nhiều khu vực khác ở Châu Á đã và đang chứng kiến sự xuất hiện dày đặc hơn của tàu chiến, máy bay và binh lính Mỹ dưới cái gọi là chiến lược “chuyển hướng trọng tâm” về khu vực. Mỹ đã tuyên bố quay trở lại Châu Á-Thái Bình Dương từ hồi cuối năm ngoái.
Ông Tập Cận Bình ra lệnh cho quân đội sẵn sàng chiến đấu
Lo ngại về những ý định của Washington, Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh của quân đội nước này.
Mặc dù không ám chỉ trực tiếp đến các tranh chấp lãnh thổ hiện này ở Biển Đông nhưng tân Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc – ông Tập Cận Bình mới đây đã kêu gọi quân đội chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến đấu.
Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã ra lệnh cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) tăng cường ý thức “chiến đấu thực sự” để duy trì khả năng sẵn sàng.
Theo một thông cáo báo chí được giới chức quân sự Trung Quốc phát đi ngày hôm qua (12/12), ông Tập Cận Bình đã đưa ra mệnh lệnh trên trong chuyến đi thị sát từ ngày 8 đến 10/12 đến một căn cứ quân sự ở tỉnh Quảng Châu.
Là Chủ tịch Ủy ban Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng chính là Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Trung Quốc. Với 2,3 triệu binh lính, quân đội Trung Quốc là lực lượng lớn nhất thế giới.
Ông Tập Cận Bình kêu gọi các sĩ quan PLA áp dụng các tiêu chuẩn chiến đấu thật sự trong đào tạo binh lính đồng thời tăng cường sự sẵn sàng cũng như nhận thức của các binh lính.
Tân Tổng Bí thư Trung Quốc cũng tái khẳng định, nhiệm vụ then chốt của PLA là củng cố khả năng phát động các cuộc chiến tranh khu vực trong Thời đại Thông tin và tiến hành các chiến dịch quân sự đa dạng.
"Hãy khắc ghi trong tâm trí một điều, việc tuân theo sự chỉ đạo của Đảng là linh hồn của quân đội. Ưu tiên hàng đầu của quân đội là có thể chiến đấu và giành chiến thắng trong các cuộc chiến. Điều cơ bản là quân đội phải củng cố sức mạnh thông qua việc quản lý binh lính trong sự khắc nghiệt và theo luật pháp để tăng cường sự phát triển của lực lượng, củng cố lòng trung thành với đảng, đẩy mạnh hiện đại hóa và tính chính quy trong quân đội", ông Tập Cận Bình đã phát biểu như vậy với các sĩ quan ở căn cứ Quảng Châu.
Trong chuyến đi thị sát nói trên, ông Tập Cận Bình đã ăn trưa trên tàu khu trục Haikou cùng với các thủy thủ. Ông này cũng kiểm tra một xe thiết giáp và thị sát một cuộc tập trận.
Việc Philippines hối hả thúc đẩy các hoạt động thắt chặt mối quan hệ quân sự với Mỹ, mở rộng cánh cửa cho sự hiện diện quân sự của Mỹ ở nước này, và sự kiện ông Tập Cận Bình kêu gọi quân đội sẵn sàng chiến đấu diễn ra trong cùng một thời điểm khi mà Manila và Bắc Kinh đang đối đầu căng thẳng với nhau vì tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Cả Philippines và Trung Quốc đều không ám chỉ gì đến những tranh chấp nóng bỏng ở Biển Đông hiện nay nhưng giới phân tích tin rằng, các động thái của họ đều liên quan đến vấn đề này.
Nguồn: VnMedia
Các quan chức cấp cao Mỹ và Philippines hôm qua (12/12) đã có cuộc gặp ở thủ đô Manila để thảo luận về việc tăng cường hơn nữa mối quan hệ hợp tác hàng hải, quốc phòng, an ninh và kinh tế. Giới quan chức quân sự và ngoại giao Philippines cho biết, họ chờ đợi thêm nhiều tàu, máy bay và binh lính Mỹ đến nước họ tập trận và tham gia các chiến dịch nhân đạo cũng như cứu trợ thảm họa.
"Những gì mà chúng tôi đang thỏa luận là tăng cường sự hiện diện luân phiên của các lực lượng Mỹ”, ông Carlos Sorreta – Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, cho các phóng viên biết. Theo tiết lộ của ông Sorreta, Mỹ và Philippines sẽ phê chuẩn một kế hoạch tập trận chung 5 năm trong tuần này.
Hiện tại, quy mô của việc tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Philippines vẫn chưa được quyết định. Thứ trưởng Quốc phòng Philippines – ông Pio Lorenzo Batino cho biết, hai nước sẽ có “nhiều cuộc thảo luận” về một khung quy chế mới cho phép Washington đưa thêm nhiều thiết bị quân sự vào Philippines.
"Hiện chúng tôi chưa thảo luận những chi tiết cụ thể... Những vấn đề đó sẽ được quyết định bởi các nhóm làm việc”, Thứ trưởng Batino cho biết tại một cuộc họp báo.
Trong khi đó, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Kurt Campbell cho biết, mối quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines đang trong “thời kỳ phục hưng”.
Philippines cho biết, họ muốn được chuẩn bị ở một tư thế tốt hơn để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Một quan chức ngoại giao Philippines hồi đầu tuần này đã khẳng định, Manila coi Mỹ như là một bên có thể giúp họ có được vị thế, tư thế tốt hơn như mong muốn. Trong khi Mỹ tuyên bố duy trì lập trường trung lập trong các tranh chấp ở Biển Đông thì nước này vẫn đưa ra những tư vấn về quốc phòng cho Philippines theo Thỏa thuận Quốc phòng Chung mà hai nước đã ký với nhau.
Việc Mỹ đẩy mạnh sự hiện diện quân sự ở Philippines diễn ra trong bối cảnh Australia và nhiều khu vực khác ở Châu Á đã và đang chứng kiến sự xuất hiện dày đặc hơn của tàu chiến, máy bay và binh lính Mỹ dưới cái gọi là chiến lược “chuyển hướng trọng tâm” về khu vực. Mỹ đã tuyên bố quay trở lại Châu Á-Thái Bình Dương từ hồi cuối năm ngoái.
Ông Tập Cận Bình ra lệnh cho quân đội sẵn sàng chiến đấu
Lo ngại về những ý định của Washington, Trung Quốc đang tăng cường sức mạnh của quân đội nước này.
Mặc dù không ám chỉ trực tiếp đến các tranh chấp lãnh thổ hiện này ở Biển Đông nhưng tân Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc – ông Tập Cận Bình mới đây đã kêu gọi quân đội chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc chiến đấu.
Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã ra lệnh cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) tăng cường ý thức “chiến đấu thực sự” để duy trì khả năng sẵn sàng.
Theo một thông cáo báo chí được giới chức quân sự Trung Quốc phát đi ngày hôm qua (12/12), ông Tập Cận Bình đã đưa ra mệnh lệnh trên trong chuyến đi thị sát từ ngày 8 đến 10/12 đến một căn cứ quân sự ở tỉnh Quảng Châu.
Là Chủ tịch Ủy ban Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tập Cận Bình cũng chính là Tổng Tư lệnh các Lực lượng Vũ trang Trung Quốc. Với 2,3 triệu binh lính, quân đội Trung Quốc là lực lượng lớn nhất thế giới.
Ông Tập Cận Bình kêu gọi các sĩ quan PLA áp dụng các tiêu chuẩn chiến đấu thật sự trong đào tạo binh lính đồng thời tăng cường sự sẵn sàng cũng như nhận thức của các binh lính.
Tân Tổng Bí thư Trung Quốc cũng tái khẳng định, nhiệm vụ then chốt của PLA là củng cố khả năng phát động các cuộc chiến tranh khu vực trong Thời đại Thông tin và tiến hành các chiến dịch quân sự đa dạng.
"Hãy khắc ghi trong tâm trí một điều, việc tuân theo sự chỉ đạo của Đảng là linh hồn của quân đội. Ưu tiên hàng đầu của quân đội là có thể chiến đấu và giành chiến thắng trong các cuộc chiến. Điều cơ bản là quân đội phải củng cố sức mạnh thông qua việc quản lý binh lính trong sự khắc nghiệt và theo luật pháp để tăng cường sự phát triển của lực lượng, củng cố lòng trung thành với đảng, đẩy mạnh hiện đại hóa và tính chính quy trong quân đội", ông Tập Cận Bình đã phát biểu như vậy với các sĩ quan ở căn cứ Quảng Châu.
Trong chuyến đi thị sát nói trên, ông Tập Cận Bình đã ăn trưa trên tàu khu trục Haikou cùng với các thủy thủ. Ông này cũng kiểm tra một xe thiết giáp và thị sát một cuộc tập trận.
Việc Philippines hối hả thúc đẩy các hoạt động thắt chặt mối quan hệ quân sự với Mỹ, mở rộng cánh cửa cho sự hiện diện quân sự của Mỹ ở nước này, và sự kiện ông Tập Cận Bình kêu gọi quân đội sẵn sàng chiến đấu diễn ra trong cùng một thời điểm khi mà Manila và Bắc Kinh đang đối đầu căng thẳng với nhau vì tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Cả Philippines và Trung Quốc đều không ám chỉ gì đến những tranh chấp nóng bỏng ở Biển Đông hiện nay nhưng giới phân tích tin rằng, các động thái của họ đều liên quan đến vấn đề này.
Nguồn: VnMedia
Thứ Năm, 13 tháng 12, 2012
Nga nói phiến quân có thể chiến thắng và chuẩn bị sơ tán công dân khỏi Syria
13/12/2012- (Reuters) - Phiến quân Syria đang chiếm thêm đất và có thể giành chiến thắng, một đồng minh chính của Tổng thống Bashar al-Assad, Bộ trưởng Ngoại giao Nga cho biết ngày Thứ năm.
"Người ta phải nhìn vào sự thật," Trang tin nhà nước Nga RIA dẫn lời Mikhail Bogdanov nói. "Thật không may, sự chiến thắng của phe đối lập Syria không thể được loại trừ."

Tên lửa đạn đạo Scud của Syria đã được bắn vào vùng tạm chiếm của phiến quân hôm thứ Tư 12/12/2012. Ảnh minh họa.
Bogdanov, đặc phái viên của điện Kremlin về vấn đề Trung Đông, nói rằng chính phủ Syria "ngày càng mất kiểm soát lãnh thổ" và rằng Moscow đang chuẩn bị kế hoạch sơ tán công dân Nga nếu cần thiết.
Quân nổi dậy đã dựng một vòng cung lửa gần như liên hoàn từ phía đông đến phía đông nam của Thủ đô Damascus, bất chấp sự bắn phá ác liệt của quân đội chính phủ để đẩy lùi.
Ngoài việc chiếm lãnh thổ ở vùng ngoại ô Damascus trong những tuần gần đây, phiến quân cũng đã thực hiện các cuộc tấn công nhắm mục tiêu các tòa nhà an ninh quốc gia hoặc các khu vực được xem là trung thành với Assad, chẳng hạn như Jaramana, nơi hai quả bom đã giết chết 34 người trong tháng 11.
Bị dồn vào chân tường, Tổng thống Assad chuẩn bị sẳn sàng dùng vũ khí (hóa học) giết người hàng loạt, theo nhiều báo cáo.
Quan chức NATO cho biết hôm thứ Tư rằng quân đội Syria đã bắn tên lửa đạn đạo Scud, có uy lực mạnh nhưng độ chính xác không cao, chống lại phiến quân trong những ngày gần đây.
Đài quan sát Syria của Anh cho biết máy bay chiến đấu ném bom quân phiến loạn ở vùng ngoại ô phía đông của Damascus vào thứ Năm trong khi pháo binh đã được bắn vào Daraya và Moadamiyeh, phía Tây Nam của khu vực gần trung tâm, nơi các phiến quân đang tạm chiếm.
Ít nhất 40.000 người đã thiệt mạng trong cuộc nội chiến Syria, bắt đầu từ tháng 3 năm 2011 với các cuộc biểu tình đường phố đã được đáp trả bằng tiếng súng bởi lực lượng an ninh của Assad.
Hoa Kỳ và các nước Ảrập đã chính thức công nhận phe đối lập mới được thành lập ở Syria ngày Thứ tư, mặc dù có dấu hiệu khó chịu của phương Tây về sự trỗi dậy của người Hồi giáo chiến đấu trong hàng ngũ quân nổi dậy.
Các quốc gia phương Tây tổ chức các cuộc đàm phán tại Marrakech, Morocco đã thành lập một liên minh quốc gia mới vào tháng trước đứng đầu bởi giáo sĩ Hồi giáo ôn hòa Mouaz Alkhatib.
Nga, cùng với Trung Quốc đã ngăn chặn bất kỳ biện pháp nào của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chống lại Assad, chỉ trích quyết định công nhận liên minh mới của Washington, nói rằng điều này là từ bỏ các nỗ lực để đạt được một giải pháp chính trị.
Nhận xét của Bogdanov là dấu hiệu rõ ràng nhất rằng Nga đang chuẩn bị cho sự thất bại có thể có của chính phủ Assad.
Bogdanov cho biết: "Chúng tôi đang đối phó với các vấn đề cho di tản. Chúng tôi có kế hoạch huy động và tìm kiếm các công dân của chúng tôi ở Syria".
Syria dùng tên lửa đạn đạo Scud tấn công phiến quân
Theo Reuters
"Người ta phải nhìn vào sự thật," Trang tin nhà nước Nga RIA dẫn lời Mikhail Bogdanov nói. "Thật không may, sự chiến thắng của phe đối lập Syria không thể được loại trừ."

Tên lửa đạn đạo Scud của Syria đã được bắn vào vùng tạm chiếm của phiến quân hôm thứ Tư 12/12/2012. Ảnh minh họa.
Bogdanov, đặc phái viên của điện Kremlin về vấn đề Trung Đông, nói rằng chính phủ Syria "ngày càng mất kiểm soát lãnh thổ" và rằng Moscow đang chuẩn bị kế hoạch sơ tán công dân Nga nếu cần thiết.
Quân nổi dậy đã dựng một vòng cung lửa gần như liên hoàn từ phía đông đến phía đông nam của Thủ đô Damascus, bất chấp sự bắn phá ác liệt của quân đội chính phủ để đẩy lùi.
Ngoài việc chiếm lãnh thổ ở vùng ngoại ô Damascus trong những tuần gần đây, phiến quân cũng đã thực hiện các cuộc tấn công nhắm mục tiêu các tòa nhà an ninh quốc gia hoặc các khu vực được xem là trung thành với Assad, chẳng hạn như Jaramana, nơi hai quả bom đã giết chết 34 người trong tháng 11.
Bị dồn vào chân tường, Tổng thống Assad chuẩn bị sẳn sàng dùng vũ khí (hóa học) giết người hàng loạt, theo nhiều báo cáo.
Quan chức NATO cho biết hôm thứ Tư rằng quân đội Syria đã bắn tên lửa đạn đạo Scud, có uy lực mạnh nhưng độ chính xác không cao, chống lại phiến quân trong những ngày gần đây.
Đài quan sát Syria của Anh cho biết máy bay chiến đấu ném bom quân phiến loạn ở vùng ngoại ô phía đông của Damascus vào thứ Năm trong khi pháo binh đã được bắn vào Daraya và Moadamiyeh, phía Tây Nam của khu vực gần trung tâm, nơi các phiến quân đang tạm chiếm.
Ít nhất 40.000 người đã thiệt mạng trong cuộc nội chiến Syria, bắt đầu từ tháng 3 năm 2011 với các cuộc biểu tình đường phố đã được đáp trả bằng tiếng súng bởi lực lượng an ninh của Assad.
Hoa Kỳ và các nước Ảrập đã chính thức công nhận phe đối lập mới được thành lập ở Syria ngày Thứ tư, mặc dù có dấu hiệu khó chịu của phương Tây về sự trỗi dậy của người Hồi giáo chiến đấu trong hàng ngũ quân nổi dậy.
Các quốc gia phương Tây tổ chức các cuộc đàm phán tại Marrakech, Morocco đã thành lập một liên minh quốc gia mới vào tháng trước đứng đầu bởi giáo sĩ Hồi giáo ôn hòa Mouaz Alkhatib.
Nga, cùng với Trung Quốc đã ngăn chặn bất kỳ biện pháp nào của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chống lại Assad, chỉ trích quyết định công nhận liên minh mới của Washington, nói rằng điều này là từ bỏ các nỗ lực để đạt được một giải pháp chính trị.
Nhận xét của Bogdanov là dấu hiệu rõ ràng nhất rằng Nga đang chuẩn bị cho sự thất bại có thể có của chính phủ Assad.
Bogdanov cho biết: "Chúng tôi đang đối phó với các vấn đề cho di tản. Chúng tôi có kế hoạch huy động và tìm kiếm các công dân của chúng tôi ở Syria".
Syria dùng tên lửa đạn đạo Scud tấn công phiến quân
Theo Reuters
Công bố Ngân sách Quốc phòng Việt Nam
13/12/2012- Cổng thông tin điện tử Bộ quốc phòng vừa công bố ngân sách quốc phòng Việt Nam từ 2005 đến 2008 là 2,1 %, tính trung bình theo tỷ trọng GDP.
Cổng thông tin này không đề cập đến ngân sách quốc phòng Việt Nam những năm gần đây nhưng theo Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế tại Stockholm, Thụy Ðiển, ngân sách quốc phòng của Việt Nam năm 2012 khoảng 3.1 tỉ USD, tăng 35% so với năm 2011. Còn trang tin quốc phòng SBWire thì ước tính chi tiêu quốc phòng của Việt Nam là khoảng 3 tỷ USD vào năm 2013.
Bản tin của Bộ quốc phòng nói, Tuy nền kinh tế còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, nhưng Nhà nước luôn dành một phần cần thiết ngân sách quốc gia cho các nhu cầu quốc phòng, đảm bảo trang bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang.
Nhờ sự phát triển kinh tế, Việt Nam đã có lượng dự trữ hậu cần đáp ứng yêu cầu đối phó với mọi tình huống khẩn cấp; hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hoàn chỉnh và hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quốc phòng.
Ngân sách quốc phòng Việt Nam (đơn vị tính: tỉ đồng)
Năm 2008
GDP: 1.490.000
Ngân sách quốc phòng: 27.024
Tỷ trọng theo GDP: 1,813%
Năm 2007
GDP: 1.143.442
Ngân sách quốc phòng: 28.922
Tỷ trọng theo GDP: 2,529%
Năm 2006
GDP: 973.791
Ngân sách quốc phòng: 20.577
Tỷ trọng theo GDP: 2,194%
Năm 2005
GDP: 839.211
Ngân sách quốc phòng: 16.278
Tỷ trọng theo GDP: 1,872%
Ngân sách nêu trên chủ yếu để bảo đảm mức sống của đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và công nhân viên quốc phòng, bảo đảm hoạt động của công nghiệp quốc phòng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo Cổng TTĐT BQP
Cổng thông tin này không đề cập đến ngân sách quốc phòng Việt Nam những năm gần đây nhưng theo Viện Nghiên Cứu Hòa Bình Quốc Tế tại Stockholm, Thụy Ðiển, ngân sách quốc phòng của Việt Nam năm 2012 khoảng 3.1 tỉ USD, tăng 35% so với năm 2011. Còn trang tin quốc phòng SBWire thì ước tính chi tiêu quốc phòng của Việt Nam là khoảng 3 tỷ USD vào năm 2013.
Bản tin của Bộ quốc phòng nói, Tuy nền kinh tế còn nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, nhưng Nhà nước luôn dành một phần cần thiết ngân sách quốc gia cho các nhu cầu quốc phòng, đảm bảo trang bị, vũ khí cho lực lượng vũ trang.
Nhờ sự phát triển kinh tế, Việt Nam đã có lượng dự trữ hậu cần đáp ứng yêu cầu đối phó với mọi tình huống khẩn cấp; hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hoàn chỉnh và hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động quốc phòng.
Ngân sách quốc phòng Việt Nam (đơn vị tính: tỉ đồng)
Năm 2008
GDP: 1.490.000
Ngân sách quốc phòng: 27.024
Tỷ trọng theo GDP: 1,813%
Năm 2007
GDP: 1.143.442
Ngân sách quốc phòng: 28.922
Tỷ trọng theo GDP: 2,529%
Năm 2006
GDP: 973.791
Ngân sách quốc phòng: 20.577
Tỷ trọng theo GDP: 2,194%
Năm 2005
GDP: 839.211
Ngân sách quốc phòng: 16.278
Tỷ trọng theo GDP: 1,872%
Ngân sách nêu trên chủ yếu để bảo đảm mức sống của đội ngũ sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và công nhân viên quốc phòng, bảo đảm hoạt động của công nghiệp quốc phòng, duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo Cổng TTĐT BQP
Nga đẩy mạnh xuất khẩu tàu chiến cỡ nhỏ hướng tới biển Đông
13/12/2012- ANTĐ - Nga liên tục gia tăng các dự án chế tạo tàu chiến cỡ nhỏ không chỉ để sử dụng mà còn để xuất khẩu. Tất cả các phiên bản xuất khẩu của Nga đều có tính mở, cho phép khách hàng được tùy chọn gói thiết bị và vũ khí phù hợp với kết cấu cơ bản của tàu.
Ra mắt hàng loạt các dự án tàu chiến cỡ nhỏ
Bộ tư lệnh hải quân Nga thông báo: Sau khi hoàn tất cuộc thử nghiệm tại nhà máy đóng tàu Almaz ngày 04/12, tàu tuần tiễu Makhachkala thuộc lớp 21630 “Buyan” sẽ được đưa vào biên chế chính thức của lực lượng hải quân Nga. Con tàu này đã hoàn tất quá trình chạy thử và thử nghiệm cấp quốc gia trên biển. Trong lịch sử phát triển của mình, nhà máy đóng tàu Almaz đã sản xuất trên 1000 chiếc tàu hạng nhẹ các loại với chất lượng rất tốt.
Tàu tuần tiễu lớp 21630 được phát triển bởi Cục thiết kế Zelenodolsk (thuộc cộng hòa Tatarstan), triển khai đóng tại nhà máy đóng tàu Almaz, chủ yếu được dùng để bảo vệ khu đặc quyền kinh tế biển quốc gia trong phạm vi 200 hải lý. Makhachkala là chiếc thứ 3 thuộc lớp 21630, chiếc đầu tiên là Astrakhan hoàn thành năm 2006, chiếc thứ 2 là Volgodonsk được bàn giao năm 2011, cả 2 tàu này đều thuộc biên chế hạm đội Caspi của Nga.
Cục thiết kế Zelenodolsk và nhà máy đóng tàu Almaz là thương hiệu nổi tiếng trong công nghiệp đóng tàu Nga, chuyên sản xuất các tàu tuần tiễu, tàu cao tốc, tàu tên lửa và tàu hộ vệ cỡ nhỏ, trong đó có một số loại đang phục vụ trong lực lượng hải quân Việt Nam như: Tàu tuần tiễu kiểu 10412 lớp Svetlyak, tàu hộ vệ đa năng Gepard 3.9…
Tàu tuần tiễu thuộc lớp 21630 “Buyan” có lượng giãn nước 570 tấn, tốc độ 26 hải lý/h, trang bị những hệ thống vũ khí tiên tiên nhất của Nga, có thiết kế giảm bộc lộ radar giúp tàu có tính năng tàng hình nhất định. Loại tàu này có tải trọng lớn hơn tàu tuần tiễu kiểu 10412 lớp Svetlyak của Việt Nam gần 200 tấn với tính năng trội hơn một chút.
Makhachkala là chiếc tàu thứ 5 thuộc 3 lớp tàu cỡ nhỏ khác nhau mà nhà máy đóng tàu Almaz bàn giao cho khách hàng trong năm 2012. Trong tháng 6-2012, nhà máy đã bàn giao 3 tàu cho hải quân Nga bao gồm: 01 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 22460, 02 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 12200 cho lực lượng biên phòng biển và đến tháng 9-2012 họ bàn giao tiếp 01 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 22460 cho lực lượng bảo vệ bờ biển Nga và cuối cùng là Makhachkala.
Ngoài các dự án đóng tàu trên Nga còn một loạt tàu chiến cỡ nhỏ rất phù hợp với các nước nghèo như Việt Nam, trong số đó nổi bật là tàu đổ bộ tấn công nhanh lớp 11770 “Serna”, 2 phiên bản tiếp theo của 21630 Buyan và tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 20380 (phiên bản xuất khẩu là 20382).
Tàu đổ bộ tấn công Serna có chiều dài 25,8m, lượng giãn nước 61 tấn, có thể mang theo 1 chiếc xe tăng hoặc 2 xe chiến đấu bộ binh hoặc một nhóm tác chiến hải quân đánh bộ 92 người. Loại tàu đổ bộ này cực kỳ phù hợp với tác chiến đổ bộ đánh chiếm, tái chiếm hoặc đổ quân chốt giữ đảo.
2 loại biến thể tiếp theo của 21630 Buyan là tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 21631 Buyan-M và tàu tuần tiễu lớp 21632 Tornado được nâng cấp vũ khí ngang tầm các tàu hộ vệ tên lửa hiện đại cỡ lớn của Nga. Đây chính là các dự án đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nước đang phát triển, ngân sách quốc phòng eo hẹp.
Tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 21631 Buyan-M là phiên bản nâng cấp tiếp theo của Buyan. Loại tàu này có lượng giãn nước 950 tấn, trang bị 8 quả tên lửa hành trình chống hạm 3M-54 Kaliber và tên lửa phòng không 3M-47 Igla. Loại tàu này tuy có lượng giãn nước thấp hơn tàu hộ vệ Gepard 3.9 của Việt Nam nhưng hỏa lực không hề kém cạnh.
Còn tàu tuần tiễu lớp 21632 Tornado là biến thể gần nhất của 21630 với 3 kiểu thiết kế tương ứng với 3 nhiệm vụ, được coi là loại tàu có tính năng thông dụng nhất vì Nga tùy theo nhu cầu của khách hàng mà đáp ứng sản xuất. 3 phiên bản của nó bao gồm: tàu pháo, tàu đổ bộ/chống đổ bộ hạng nhẹ và tàu tên lửa. Tàu pháo có tính năng tương tự lớp 21630, tàu đổ bộ/chống đổ bộ hạng nhẹ được trang bị thêm hệ thống pháo phản lực A – 215 Grad M (biến thể dùng trên biển của hệ thống pháo phản lực BM – 21), cỡ nòng 122mm, còn phiên bản tàu tên lửa có thể được lắp đặt 1 trong 2 loại tên lửa đáng gờm là 3M24 Kh-35 Uran-E và tên lửa hành trình đối hạm siêu âm Yankhont (mỗi loại 8 quả với 2 cụm, mỗi cụm 4 ống phóng 2 bên mạn, phần giữa tàu).
Nga đẩy mạnh xuất khẩu tàu chiến cỡ nhỏ cho ai?
Hiện nay, Nga liên tục gia tăng các dự án chế tạo tàu chiến cỡ nhỏ không chỉ để sử dụng mà còn để xuất khẩu. Tất cả các phiên bản xuất khẩu của Nga đều có tính mở, cho phép khách hàng được tùy chọn gói thiết bị và vũ khí phù hợp với kết cấu cơ bản của tàu. Từ trước đến nay, các loại tàu chiến Nga chiếm thị phần không lớn, khách hàng chủ yếu là các nước XHCN trước đây và bạn hàng cũ như: Algieria, Iran, Iraq, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…, hiện thị phần này đang ngày càng thu hẹp trước sự cạnh tranh quyết liệt của Mỹ, Anh, Pháp…
Do điều kiện ngân sách eo hẹp, Nga ít phát triển các loại tàu chiến hạng nặng mà tập trung chế tạo các tàu hạng trung và hạng nhẹ có lượng giãn nước từ 500 – 2000 tấn, với các loại hỏa lực rất mạnh. Vô hình trung, điều này cũng phù hợp với rất nhiều nước có ngân sách quốc phòng eo hẹp như Việt Nam, hoặc cần phát triển gấp lực lượng tàu chiến trong thời gian ngắn. Hiện nay, điểm nóng bùng nổ xung đột trên biển chủ yếu tập trung ở khu vực biển Đông, rõ ràng là người Nga đã bộc lộ ý định chuyển hướng sang Đông Nam Á trong định hướng xuất khẩu vũ khí của mình.
Trung Quốc đã bộc lộ tham vọng nuốt trọn biển Đông với hàng loạt hành động gây hấn trong thời gian gần đây, mức độ khiêu kích càng ngày càng gia tăng. Song song với nó, họ đang phát triển lực lượng tàu chiến hùng hậu nhằm uy hiếp các nước Đông Nam Á. Trước sự chèn ép của Trung Quốc, các nước nhỏ thuộc ASEAN tuy tiềm lực kinh tế yếu hơn rất nhiều nhưng họ cũng không chịu để yên cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm. Họ cũng nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển lực lượng hải quân theo kiểu “con nhà nghèo”, mua các tàu chiến cỡ lớn đã qua sử dụng và sắm hàng loạt các tàu nhỏ có tính năng cơ động cao, vũ khí trang bị hiện đại.
Thời gian qua, ngoài tự đóng mới tàu chiến, các nước này gấp rút tìm mua các loại tàu chiến hạng nặng đã qua sử dụng của các nước phương Tây mà không ký các hợp đồng đóng mới. Bề ngoài, điều này được lí giải là do tiết kiệm ngân sách nhưng thực chất chính là do sức ép về thời gian. Các tàu cũ không chỉ rẻ mà đã được kiểm chứng về tính năng, có thể sử dụng được ngay chứ không mất thời gian đóng rồi chạy thử như các tàu mới, điều đó xuất phát từ sức ép nâng cấp “thần tốc” lực lượng tàu chiến của các nước này chứ không đơn thuần là vấn đề giá cả.
Thời gian qua, liên tiếp Mỹ, Anh, Pháp… đã bán các tàu đã qua sử dụng cho Philippines, Indonesia, Singapore, thậm chí Đài Loan - vốn có nền công nghiệp đóng tàu hàng đầu châu Á cũng theo xu hướng này. Gần đây, Italia cũng bắt đầu để mắt đến thị trường vũ khí giá rẻ với hàng loạt hiệp định hợp tác quân sự song phương với Algieria (khách hàng cũ của Nga) và các nước Đông Nam Á là: Singapore, Philippines và sắp tới là Việt Nam…
Tuy chậm chân hơn các nước khác nhưng Nga vẫn đang nắm giữ nhiều lợi thế lớn là họ có rất nhiều loại tàu cỡ nhỏ nhưng vũ khí hiện đại, giá rẻ, sản xuất nhanh, kèm theo các điều kiện hấp dẫn về tự chọn các loại vũ khí. Với thực lực của các nhà máy đóng tàu lớn của Nga như nhà máy đóng tàu Almaz - St Petersburg hoặc Vostochnaya Verf - Vladivostok…, 1 năm họ có thể sản xuất được gần chục tàu chiến dạng này, hơn nữa với điều khoản chuyển giao dây chuyền công nghệ, các nước Đông Nam Á hoàn toàn có khả năng tự gia tăng số lượng tàu của mình.
Việc Nga đẩy mạnh xuất khẩu các loại tàu chiến cỡ nhỏ là một chiến lược đúng đắn, không chỉ có lợi cho ngành công nghiệp đóng tàu Nga mà còn là thời cơ bằng vàng để các nước Đông Nam Á hiện đại hóa lực lượng hải quân của mình. Về phần Việt Nam, những loại tàu này đều rất phù hợp với phương châm “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” và phương thức tác chiến linh hoạt, cơ động của hải quân Việt Nam, nó có thể trang bị cho các lực lượng hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng chấp pháp biển của Việt Nam trong tương lai.
Nguyễn Ngọc/ An ninh Thủ đô
Mạng thông tin BTL hải quân Nga
Ra mắt hàng loạt các dự án tàu chiến cỡ nhỏ
Bộ tư lệnh hải quân Nga thông báo: Sau khi hoàn tất cuộc thử nghiệm tại nhà máy đóng tàu Almaz ngày 04/12, tàu tuần tiễu Makhachkala thuộc lớp 21630 “Buyan” sẽ được đưa vào biên chế chính thức của lực lượng hải quân Nga. Con tàu này đã hoàn tất quá trình chạy thử và thử nghiệm cấp quốc gia trên biển. Trong lịch sử phát triển của mình, nhà máy đóng tàu Almaz đã sản xuất trên 1000 chiếc tàu hạng nhẹ các loại với chất lượng rất tốt.
Tàu tuần tiễu lớp 21630 được phát triển bởi Cục thiết kế Zelenodolsk (thuộc cộng hòa Tatarstan), triển khai đóng tại nhà máy đóng tàu Almaz, chủ yếu được dùng để bảo vệ khu đặc quyền kinh tế biển quốc gia trong phạm vi 200 hải lý. Makhachkala là chiếc thứ 3 thuộc lớp 21630, chiếc đầu tiên là Astrakhan hoàn thành năm 2006, chiếc thứ 2 là Volgodonsk được bàn giao năm 2011, cả 2 tàu này đều thuộc biên chế hạm đội Caspi của Nga.
Cục thiết kế Zelenodolsk và nhà máy đóng tàu Almaz là thương hiệu nổi tiếng trong công nghiệp đóng tàu Nga, chuyên sản xuất các tàu tuần tiễu, tàu cao tốc, tàu tên lửa và tàu hộ vệ cỡ nhỏ, trong đó có một số loại đang phục vụ trong lực lượng hải quân Việt Nam như: Tàu tuần tiễu kiểu 10412 lớp Svetlyak, tàu hộ vệ đa năng Gepard 3.9…
Tàu tuần tiễu thuộc lớp 21630 “Buyan” có lượng giãn nước 570 tấn, tốc độ 26 hải lý/h, trang bị những hệ thống vũ khí tiên tiên nhất của Nga, có thiết kế giảm bộc lộ radar giúp tàu có tính năng tàng hình nhất định. Loại tàu này có tải trọng lớn hơn tàu tuần tiễu kiểu 10412 lớp Svetlyak của Việt Nam gần 200 tấn với tính năng trội hơn một chút.
Makhachkala là chiếc tàu thứ 5 thuộc 3 lớp tàu cỡ nhỏ khác nhau mà nhà máy đóng tàu Almaz bàn giao cho khách hàng trong năm 2012. Trong tháng 6-2012, nhà máy đã bàn giao 3 tàu cho hải quân Nga bao gồm: 01 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 22460, 02 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 12200 cho lực lượng biên phòng biển và đến tháng 9-2012 họ bàn giao tiếp 01 tàu tuần tiễu ven bờ kiểu 22460 cho lực lượng bảo vệ bờ biển Nga và cuối cùng là Makhachkala.
Ngoài các dự án đóng tàu trên Nga còn một loạt tàu chiến cỡ nhỏ rất phù hợp với các nước nghèo như Việt Nam, trong số đó nổi bật là tàu đổ bộ tấn công nhanh lớp 11770 “Serna”, 2 phiên bản tiếp theo của 21630 Buyan và tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 20380 (phiên bản xuất khẩu là 20382).
Tàu đổ bộ tấn công Serna có chiều dài 25,8m, lượng giãn nước 61 tấn, có thể mang theo 1 chiếc xe tăng hoặc 2 xe chiến đấu bộ binh hoặc một nhóm tác chiến hải quân đánh bộ 92 người. Loại tàu đổ bộ này cực kỳ phù hợp với tác chiến đổ bộ đánh chiếm, tái chiếm hoặc đổ quân chốt giữ đảo.
2 loại biến thể tiếp theo của 21630 Buyan là tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 21631 Buyan-M và tàu tuần tiễu lớp 21632 Tornado được nâng cấp vũ khí ngang tầm các tàu hộ vệ tên lửa hiện đại cỡ lớn của Nga. Đây chính là các dự án đang nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nước đang phát triển, ngân sách quốc phòng eo hẹp.
Tàu hộ vệ hạng nhẹ lớp 21631 Buyan-M là phiên bản nâng cấp tiếp theo của Buyan. Loại tàu này có lượng giãn nước 950 tấn, trang bị 8 quả tên lửa hành trình chống hạm 3M-54 Kaliber và tên lửa phòng không 3M-47 Igla. Loại tàu này tuy có lượng giãn nước thấp hơn tàu hộ vệ Gepard 3.9 của Việt Nam nhưng hỏa lực không hề kém cạnh.
Còn tàu tuần tiễu lớp 21632 Tornado là biến thể gần nhất của 21630 với 3 kiểu thiết kế tương ứng với 3 nhiệm vụ, được coi là loại tàu có tính năng thông dụng nhất vì Nga tùy theo nhu cầu của khách hàng mà đáp ứng sản xuất. 3 phiên bản của nó bao gồm: tàu pháo, tàu đổ bộ/chống đổ bộ hạng nhẹ và tàu tên lửa. Tàu pháo có tính năng tương tự lớp 21630, tàu đổ bộ/chống đổ bộ hạng nhẹ được trang bị thêm hệ thống pháo phản lực A – 215 Grad M (biến thể dùng trên biển của hệ thống pháo phản lực BM – 21), cỡ nòng 122mm, còn phiên bản tàu tên lửa có thể được lắp đặt 1 trong 2 loại tên lửa đáng gờm là 3M24 Kh-35 Uran-E và tên lửa hành trình đối hạm siêu âm Yankhont (mỗi loại 8 quả với 2 cụm, mỗi cụm 4 ống phóng 2 bên mạn, phần giữa tàu).
Nga đẩy mạnh xuất khẩu tàu chiến cỡ nhỏ cho ai?
Hiện nay, Nga liên tục gia tăng các dự án chế tạo tàu chiến cỡ nhỏ không chỉ để sử dụng mà còn để xuất khẩu. Tất cả các phiên bản xuất khẩu của Nga đều có tính mở, cho phép khách hàng được tùy chọn gói thiết bị và vũ khí phù hợp với kết cấu cơ bản của tàu. Từ trước đến nay, các loại tàu chiến Nga chiếm thị phần không lớn, khách hàng chủ yếu là các nước XHCN trước đây và bạn hàng cũ như: Algieria, Iran, Iraq, Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam…, hiện thị phần này đang ngày càng thu hẹp trước sự cạnh tranh quyết liệt của Mỹ, Anh, Pháp…
Do điều kiện ngân sách eo hẹp, Nga ít phát triển các loại tàu chiến hạng nặng mà tập trung chế tạo các tàu hạng trung và hạng nhẹ có lượng giãn nước từ 500 – 2000 tấn, với các loại hỏa lực rất mạnh. Vô hình trung, điều này cũng phù hợp với rất nhiều nước có ngân sách quốc phòng eo hẹp như Việt Nam, hoặc cần phát triển gấp lực lượng tàu chiến trong thời gian ngắn. Hiện nay, điểm nóng bùng nổ xung đột trên biển chủ yếu tập trung ở khu vực biển Đông, rõ ràng là người Nga đã bộc lộ ý định chuyển hướng sang Đông Nam Á trong định hướng xuất khẩu vũ khí của mình.
Trung Quốc đã bộc lộ tham vọng nuốt trọn biển Đông với hàng loạt hành động gây hấn trong thời gian gần đây, mức độ khiêu kích càng ngày càng gia tăng. Song song với nó, họ đang phát triển lực lượng tàu chiến hùng hậu nhằm uy hiếp các nước Đông Nam Á. Trước sự chèn ép của Trung Quốc, các nước nhỏ thuộc ASEAN tuy tiềm lực kinh tế yếu hơn rất nhiều nhưng họ cũng không chịu để yên cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm. Họ cũng nhanh chóng xây dựng chiến lược phát triển lực lượng hải quân theo kiểu “con nhà nghèo”, mua các tàu chiến cỡ lớn đã qua sử dụng và sắm hàng loạt các tàu nhỏ có tính năng cơ động cao, vũ khí trang bị hiện đại.
Thời gian qua, ngoài tự đóng mới tàu chiến, các nước này gấp rút tìm mua các loại tàu chiến hạng nặng đã qua sử dụng của các nước phương Tây mà không ký các hợp đồng đóng mới. Bề ngoài, điều này được lí giải là do tiết kiệm ngân sách nhưng thực chất chính là do sức ép về thời gian. Các tàu cũ không chỉ rẻ mà đã được kiểm chứng về tính năng, có thể sử dụng được ngay chứ không mất thời gian đóng rồi chạy thử như các tàu mới, điều đó xuất phát từ sức ép nâng cấp “thần tốc” lực lượng tàu chiến của các nước này chứ không đơn thuần là vấn đề giá cả.
Thời gian qua, liên tiếp Mỹ, Anh, Pháp… đã bán các tàu đã qua sử dụng cho Philippines, Indonesia, Singapore, thậm chí Đài Loan - vốn có nền công nghiệp đóng tàu hàng đầu châu Á cũng theo xu hướng này. Gần đây, Italia cũng bắt đầu để mắt đến thị trường vũ khí giá rẻ với hàng loạt hiệp định hợp tác quân sự song phương với Algieria (khách hàng cũ của Nga) và các nước Đông Nam Á là: Singapore, Philippines và sắp tới là Việt Nam…
Tuy chậm chân hơn các nước khác nhưng Nga vẫn đang nắm giữ nhiều lợi thế lớn là họ có rất nhiều loại tàu cỡ nhỏ nhưng vũ khí hiện đại, giá rẻ, sản xuất nhanh, kèm theo các điều kiện hấp dẫn về tự chọn các loại vũ khí. Với thực lực của các nhà máy đóng tàu lớn của Nga như nhà máy đóng tàu Almaz - St Petersburg hoặc Vostochnaya Verf - Vladivostok…, 1 năm họ có thể sản xuất được gần chục tàu chiến dạng này, hơn nữa với điều khoản chuyển giao dây chuyền công nghệ, các nước Đông Nam Á hoàn toàn có khả năng tự gia tăng số lượng tàu của mình.
Việc Nga đẩy mạnh xuất khẩu các loại tàu chiến cỡ nhỏ là một chiến lược đúng đắn, không chỉ có lợi cho ngành công nghiệp đóng tàu Nga mà còn là thời cơ bằng vàng để các nước Đông Nam Á hiện đại hóa lực lượng hải quân của mình. Về phần Việt Nam, những loại tàu này đều rất phù hợp với phương châm “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” và phương thức tác chiến linh hoạt, cơ động của hải quân Việt Nam, nó có thể trang bị cho các lực lượng hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng chấp pháp biển của Việt Nam trong tương lai.
Nguyễn Ngọc/ An ninh Thủ đô
Mạng thông tin BTL hải quân Nga
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)











