Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013
Trung Quốc dự định triển khai 8 máy bay J-10 trên đảo Phú Lâm
Máy bay chiến đấu J-10 PLA
Trong thực tế, Liêu Ninh và nhóm tàu hộ tống thực hiện động thái này là nhằm vào vấn đề biển Hoa Đông. Nhưng gần đây một số phương tiện truyền thông Trung Quốc đưa tin rằng quân giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) đang có ý định triển khai 8 máy bay chiến đấu J-10 tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, với mục đích để ngăn chặn các hành động của Việt Nam trên Biển Đông.
Tại sao PLA lại triển triển khai J-10 , chứ không phải là loại máy bay Su-30MKK ? Bởi vì J-10 gọn hơn, hiệu suất chiến đấu trên không cao hơn, và thích hợp với khu vực nhiệt độ và độ ẩm cao cũng như môi trường muối cao ở vùng biển Đông, máy bay được sử dụng các biện pháp đặc biệt chống sự ăn mòn của muối với công nghệ tiên tiến của Trung Quốc. Trong thực tế chiến đấu, trong các cuộc chiến thử nghiệm máy bay J-10 đã dành được chiến thắng trước các máy bay Su-30MKK, Su-27, J-11, do đó J-10 hoàn toàn có thể dành ưu thế đáng kể trước Su-30MK2 của không quân Việt Nam.
Đảo Phú Lâm quần đảo Hoàng Sa
Ngoài ra, các máy bay chiến đấu J-10 được trang bị các hệ thống tác chiến điện tử tiên tiến hơn bất kỳ máy bay nào trong PLA, do đó J-10 xứng đáng thay thế Su-30MKK để có mặt tại đảo Phú Lâm.
Theo Qianzhan.com
Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013
Ấn Độ đang "chơi bài hai mặt" ở biển Đông ?
Hành động cân bằng tinh tế của New Delhi đã được đưa vào thử nghiệm tuần này khi chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh tới Trung Quốc trùng hợp với chuyến đi của Bộ trưởng Ngoại giao Salman Khurshid đến Philippines.
Hành trình của Khurshid ở Biển Đông dường như không nổi bật so với chuyến đi đến Bắc Kinh của ông Singh - chuyến thăm nhằm làm giảm căng thẳng dọc theo biên giới Trung- Ấn cũng như tái cân bằng các mối quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, trước khi ông Singh đến Trung Quốc, Khurshid đã có một cuộc phỏng vấn với tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng của Hồng Công, trong đó ông xuất hiện để hòa giải với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp Biển Đông.
"Chúng tôi không can thiệp" vào vấn đề tranh chấp biển Đông của Trung Quốc, Khurshid nói với tờ nhật báo Hồng Công. Ông nói thêm , "Chúng tôi tin rằng bất cứ điều gì là một vấn đề song phương giữa hai quốc gia phải được giải quyết bởi hai quốc gia".
Quan điểm này phù hợp với nhu cầu của Trung Quốc rằng tranh chấp ở Biển Đông phải được xử lý trên cơ sở song phương mà không cần bất kỳ sự can thiệp từ những bên không có tranh chấp. Trước đây, Trung Quốc đã kịch liệt chỉ trích Ấn Độ vì các hoạt động chung với Việt Nam trong vùng biển mà cả Hà Nội và Bắc Kinh cùng tuyên bố chủ quyền. Gần đây nhất là hồi đầu tháng này Thủ tướng Singh hậu thuẩn mạnh mẽ các tổ chức khu vực đóng một vai trò tích cực trong việc quản lý các tranh chấp ở biển Đông trong khi Bắc Kinh đã cố gắng để tránh đa phương hóa vấn đề. Việc Khurshid thừa nhận một cơ chế song phương dường như mâu thuẫn với phát biểu của ông Singh tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tháng này.
Tuy nhiên, trong chuyến thăm Philippines trong tuần này, Khurshid đi xa hơn so những thách thức mà Ấn Độ thể hiện trước đây đối với các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Để bắt đầu, mục đích chính trong chuyến đi của ông Khurshid là để chuẩn bị cho việc nâng cấp quan hệ song phương Ấn Độ- Philippines lên tầm đối tác toàn diện khi Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee đến Philippines vào năm tới. Khurshid và người đồng cấp Philippines, Albert del Rosario, cũng nhất trí mở rộng hợp tác quốc phòng giữa hai bên. Truyền thông Philippines tuần này thậm chí còn báo cáo rằng Manila có thể mua hai tàu khu trục của Ấn Độ.
Đáng chú ý nhất có lẽ là tuyên bố chung, mà Khurshid đã ký, gọi là biển Đông là "Biển Tây Philippines"- tên gọi biển Đông mà Manila sử dụng để chỉ các vùng biển tranh chấp. Theo phương tiện truyền thông Ấn Độ, điều này đã phá vỡ chính sách thông thường của Ấn Độ là luôn đề cập đến vùng biển này với tên gọi "Biển Nam Trung Hoa" (South China Sea) nhằm tránh gây mất lòng với Bắc Kinh.
Trong chuyến thăm Philippines, Khurshid tán thành sự tham gia của các bên Đông Nam Á để giải quyết tranh chấp trong khi Bắc Kinh phản đối kịch liệt. Ví dụ, trong câu trả lời cho một câu hỏi từ các phóng viên sau một bài phát biểu ông, Khurshid "nhấn mạnh rõ ràng" rằng Ấn Độ ủng hộ sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS) là cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở biển Đông. Cuối cùng, Khurshid nói cũng hỗ trợ các quyết định của Philippines trong việc tìm kiếm tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
"Tòa án là một câu trả lời. Tôi hy vọng nó làm việc", Khurshid nói. Trung Quốc đã bác bỏ việc đưa tranh chấp này ra tòa án quốc tế.
Cuối cùng, Khurshid đề cập trực tiếp vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với các tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Mặc dù ông làm điều đó nhằm giúp Philippines có nhiều ưu thế nếu tham gia đối thoại trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp, Bắc Kinh phản đối việc gắn liền các vụ tranh chấp lãnh thổ lại với nhau.
Các đối thủ của Trung Quốc, đặc biệt là Nhật Bản, đã cố gắng để làm chính xác điều đó.
Tác giả Zachary Keck, Tạp chí ngoại giao The Diplomat
Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013
Báo Mỹ khẳng định “Hoàng Sa, Trường Sa thuộc về Việt Nam”

Trần Đình Thắng có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc.
Thời gian qua, một số tờ báo Mỹ đã nói về tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa Trung Quốc và các nước Châu Á. Nhưng bài viết vừa qua trên tạp chí Christian Science Monitor - tờ báo khá lớn, thuộc thể loại báo chính trị, phát hành cả ở Mỹ và quốc tế - là bài đầu tiên ở Mỹ có dòng chữ khẳng định “Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam”, mặc dù đó là lời phát biểu của cá nhân anh Trần Thắng.
Dưới đây là bài viết của Mai Ngọc Châu, đang học thạc sỹ báo chí ở Boston về việc trên. Lao Động điện tử xin trích dịch dưới đây.
Nghĩa vụ giữ gìn đất nước
Năm 1995, Trần Đình Thắng, một Việt kiều Mỹ, mời giáo sư Trần Văn Khê từ Đại học Sorbonne (Pháp) - chuyên gia về âm nhạc Việt Nam, đến nói chuyện tại Đại học Connecticut (trường Uconn – Mỹ). Buổi nói chuyện của ông đã trở thành một phần lịch sử của trường Uconn. Cuộc đó thu hút hơn 300 khán giả, nhưng một phần ba trong số đó là để phản đối chính phủ Việt Nam. Nhưng điều đó không làm Trần Thắng nhụt chí.
Lúc đó anh là sinh viên năm thứ ba ngành cơ khí và là Chủ tịch Hội Sinh viên Việt Nam của trường. Thắng nhận ra rằng, cuộc gặp với một biểu tượng văn hóa Việt Nam đã đánh thức trong anh tình yêu với quê hương. “Chính giáo sư Khê đã cho tôi sức mạnh nội tại để theo đuổi việc trao đổi văn hóa", Trần Thắng nói.
Giờ đây tình yêu của Thắng với tất cả những gì mang tính Việt Nam còn kết hợp với một sự say mê khác: Sưu tập bản đồ cổ. Anh đã có trong tay 150 tấm bản đồ và ba tập bản đồ cổ Trung Quốc, trong đó chỉ ra rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chưa bao giờ là một phần của Trung Quốc như nước này tuyên bố, mà thực ra là thuộc về Việt Nam.
Các chuyên gia về biển Đông nói rằng, nếu các tranh chấp biển đảo được đưa ra Tòa án Công lý Quốc tế, bộ sưu tập bản đồ của Trần Thắng có thể được dùng làm bằng chứng lịch sử để phản bác các đòi hỏi của Trung Quốc. “Là người Việt, tôi có nghĩa vụ giữ gìn đất nước”, Trần Thắng nói. Anh bảo rằng anh luôn mong muốn biến những suy nghĩ của mình thành hành động.
Trần Thắng sống cùng bố mẹ ở West Hartford, bang Connecticut. Gia đình anh sang Mỹ từ năm 1991. Sau khi tốt nghiệp ngành cơ khí ở đại học Uconn, Trần Thắng tiếp tục lấy bằng thứ hai về quản lý và kỹ thuật, rồi anh làm việc cho công ty Electric Boat. Hiện Thắng là kỹ sư của công ty Prat & Whitney, một nhà sản xuất linh kiện máy bay.
Trần Thắng bắt đầu sưu tập bản đồ cổ từ tháng 7/2012 với suy nghĩ rằng những bản đồ đó sẽ giúp bảo vệ chủ quyền Việt Nam. Anh lên mạng bán đấu giá eBay, tìm kiếm các từ khóa như “Bản đồ Trung Quốc”, “Bản đồ Đông Dương”, “Đảo Hải Nam”. Anh nói: “Các công trình của người phương Tây thường dựa trên cơ sở khoa học, vì thế tôi cho rằng các bản đồ cổ do phương Tây vẽ có thể là bằng chứng khoa học về chủ quyền của Việt Nam”. Trần Thắng tìm kiếm trên mạng, liên hệ với các nhà sử học, lấy ý kiến của các chuyên gia về biển Đông từ Mỹ đến Việt Nam. 150 bản đồ và 3 tập bản đồ anh sưu tập được xuất bản ở Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Ấn Độ và Trung Quốc từ 1626 đến 1980.
“Khoảng 80 tấm bản đồ và 3 tập atlas chỉ rõ, biên giới phía nam Trung Quốc là đảo Hải Nam, và 50 bản đồ chỉ rõ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam", Trần Thắng cho biết.
Tiến sỹ Trần Đức Anh Sơn của Viện Phát triển Kinh tế Xã hội Đà Nẵng khẳng định, các sưu tập của Thắng đã cung cấp thêm bằng chứng lịch sử và khoa học để chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Hoàng Sa Trường Sa, bác bỏ đòi hỏi vô lý của Trung Quốc với hai quần đảo này. Còn giáo sư danh dự Đại học New South Wales (Australia), ông Carl Thayer, nói rằng bộ sưu tập của Trần Thắng cho thấy sự đối lập trong đòi hỏi của Trung Quốc.
Trái tim ở Việt Nam
Từ năm 1996, cùng với bạn bè, Trần Thắng đã thành lập ra tạp chí Nhịp Sống, một tạp chí bằng tiếng Việt để thúc đẩy hiểu biết về văn hóa Việt Nam. Tạp chí dày 124 trang, ra mỗi năm một kỳ, tập hợp các bài viết về lịch sử, xã hội, văn học, nghệ thuật Việt Nam, thu hút sự đóng góp của rất nhiều học giả và nghệ sỹ ở Mỹ, ở Việt Nam và nhiều nơi khác. Tạp chí đã đến với nhiều người Mỹ gốc Việt cho dù họ có quan điểm khác nhau.
Năm 2000, Trần Thắng tiếp tục thúc đẩy các trao đổi văn hóa lên một bước mới. Với sự ủng hộ của nhiều học giả Việt Nam có tên tuổi ở nước ngoài, Trần Thắng đã thành lập tổ chức phi lợi nhuận có tên Viện Văn hóa Giáo dục Việt Nam (IVCE). IVCE thường tổ chức tại Việt Nam các hội thảo về việc du học Mỹ và trợ giúp sinh viên Việt Nam xin học bổng tại Mỹ. 12 năm qua, Trần Thắng đi lại như con thoi giữa Mỹ và Việt Nam, tổ chức khoảng 60 hội thảo mùa hè về du học tại Mỹ, với sự giúp đỡ từ kinh nghiệm trực tiếp của hàng trăm người Mỹ gốc Việt. Hàng chục trường đại học Mỹ và Việt Nam giờ là đối tác của IVCE để trao đổi các đoàn và thiết lập các chương trình hợp tác. IVCE cũng đã tổ chức 44 sự kiện khắp nước Mỹ đề giới thiệu về âm nhạc, nghệ thuật cổ truyền, mỹ thuật, văn học, chiếu phim tài liệu và phim truyện Việt Nam.
“Trần Thắng sống ở Mỹ, nhưng trái tim anh ấy ở Việt Nam”, nữ diễn viên điện ảnh Hồng Anh nói. Cô đã tham gia cùng Trần Thắng trong chuyến đi tới các trường đại học vùng đông bắc nước Mỹ hồi tháng 11.2012.
Còn giáo sư Trần Văn Khê, người trở thành thầy giáo của Trần Thắng, thì nói: “Thắng đã cống hiến cho nhiều chương trình có ích cho Việt Nam theo nhiều cách khác nhau. Nhưng Thắng không bao giờ khoa trương về những gì mình đã làm”.
Trần Thắng nói, anh cảm thấy mình có nghĩa vụ làm việc vì đất nước: “Đó là nhiệm vụ của đời tôi".
Theo M.H
Lao động
Trung Quốc xác định dầu khí Biển Đông là "tài sản quốc gia"

Dàn khoan nước sâu của Trung Quốc kéo ra Biển Đông
Tờ Oil Price xuất bản tại Anh ngày 17/2 đưa tin, Trung Quốc đã xác định rằng dầu khí ở Biển Hoa Nam, tức Biển Đông là "tài sản quốc gia".
Tuy nhiên Oil Price không đề cập rõ cơ quan nào của Trung Quốc đưa ra tuyên bố này và vào thời gian nào, ngược lại tờ báo nhấn mạnh các hoạt động ngày càng leo thang của Trung Quốc trên Biển Đông để đòi cái gọi là "chủ quyền" đối với khu vực rộng lớn được bao bọc bởi đường "lưỡi bò" phi pháp.
Theo Oil Price, trong khi báo chí phương Tây đang tập trung theo dõi vụ Bắc Triều Tiên thử hạt nhân và những căng thẳng trong tranh chấp chủ quyền ở Đông Bắc Á giữa Trung Quốc với Nhật Bản ngoài Biển Hoa Đông, thì Trung Quốc vẫn âm thầm đẩy mạnh hoạt động và nảy sinh các vấn đề hàng hải trên Biển Đông.
Việc Cơ quan Thông tin năng lượng của chính phủ Mỹ (EIA) công bố tiềm năng dầu khí ở Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam - PV) hiện đang có 5 nước 6 bên tuyên bố chủ quyền càng làm gia tăng thêm căng thẳng.
Ngày 7/2, EIA thông báo, Biển Đông, đặc biệt là khu vực quần đảo Trường Sa có chứa khoảng 11 tỷ thùng dầu và 190 ngàn tỷ mét khối khí đốt tự nhiên, trong khi Trung Quốc cũng đưa ra số liệu khảo sát của tập đoàn Dầu khí ngoài khơi Trung Quốc (CNOOC) cho rằng Biển Đông dự trữ khoảng 125 tỷ thùng dầu và 500 nghìn tỉ mét khối khí tự nhiên.
Số liệu của CNOOC còn khẳng định, nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông "chủ yếu nằm trong vùng biển chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc".
Oil Price cho rằng, không ai biết chắc chắn điều gì đang diễn ra ngoài Biển Đông, đặc biệt là việc các tàu hải quân Trung Quốc quấy rối và xua đuổi tàu khảo sát nước ngoài.
Nguồn: Báo Giáo Dục (Trích dẫn từ Oilprice)
Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012
Ấn Độ nhấn mạnh trở lại quyền tự do hàng hải trên Biển Đông
Theo hãng tin Ấn Độ ANI, phát biểu với một nhà báo, Ngoại trưởng Ấn đã xác định rằng tuy quan điểm của Trung Quốc về vấn đề chủ quyền của trên Biển Đông có khác với các láng giềng, nhưng Bắc Kinh phải tôn trọng luật hàng hải quốc tế : « Cần phải tuân thủ và tôn trọng luật biển, và quyền tự do hàng hải ngoài biển khơi là một điều mà tất cả chúng ta đều phải tuân thủ. Các vấn đề chủ quyền có thể được giải quyết giữa Trung Quốc và các quốc gia có liên quan, theo hướng song phương hoặc đa phương ».
Hồi đầu tháng 12 này, vào lúc quốc tế đang lo ngại về nguy cơ xung đột trong khu vực tranh chấp, Tư lênh Hải quân đã nói rằng hải quân Ấn Độ sẵn sàng triển khai lực lượng tại Biển Đông để bảo vệ lợi ích dầu mỏ của Ấn Độ trong khu vực.
Trong thời gian qua, Ấn Độ và Trung Quốc đã từng đấu khẩu về mặt ngoại giao trên về một số lô dầu khí ngoài khơi bờ biển miền Trung Việt Namn vốn đã được Hà Nội trao quyền khai thác cho tập đoàn Ấn ONGC. Tuy nhiên Bắc Kinh đã phản đối vì cho rằng các lô đó nằm trong vùng biển thuộc chủa quyền Trung Quốc.
Ngoại trưởng Ấn Độ đã nhấn mạnh đến quyền tự do hàng hải ngoài Biển Đông vào lúc New Dehli chuẩn bị khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh với ASEAN vào ngày mai 20/12/2012 để kỷ niệm 20 năm ngày Ấn Độ được chính thức công nhận là đối tác của ASEAN và 10 năm thành lập cơ chế Hội nghị Thượng đỉnh Ấn Độ -ASEAN.
Đây là lần đầu tiên mà Ấn Độ tổ chức hội nghị thượng đỉnh với khối Đông Nam Á trên lãnh thổ của mình. Theo hãng tin Ấn Độ IANS, sẽ có 9 nguyên thủ quốc gia hay thủ tướng chính phủ Đông Nam Á đến New Delhi tham dự hội nghị. Người vắng mặt duy nhất là Tổng thống Philippines Aquino.
Để thúc đẩy thêm chính sách Hướng đông (Look East) của mình, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh sẽ có ít nhất là năm cuộc đàm phán song phương bên lề hội nghị với lãnh đạo các nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Indonesia và Malaysia. Trong tháng 11 vừa qua, ông Singh đã hội đàm với lãnh đạo Singapor, Thái Lan, Philippines, Brunei và Miến Điện tại Phnom Penh.
Trung Quốc có lẽ sẽ theo dõi chặt chẽ cuộc họp song phương giữa Ấn Độ và Việt Nam, do việc hai bên có quan hệ khá chặt chẽ cả về mặt đầu khí lẫn quốc phòng. Cuộc họp này cũng được cho là quan trọng vì diễn ra trong bối cảnh hai bên kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập bang giao.
RFI
Đà Nẵng chặn gần 2.000 lượt tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền

Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng tăng cường kiểm soát chặt chẽ tàu thuyền nước ngoài đi vào vùng biển Việt Nam - Ảnh: HC
Theo Đại tá Phạm Bá Sơn, trước diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là tình hình biển Đông, BĐBP Đà Nẵng đã đổi mới nâng cao chất lượng công tác nắm, phân tích, dự báo tình hình; chủ động xây dựng các kế hoạch bảo vệ biên giới; tiến hành chặt chẽ, đồng bộ các biện pháp công tác biên phòng; tổ chức lực lượng tăng cường tuần tra kiểm soát; phối hợp, hợp đồng chặt chẽ với các lực lượng để phát huy sức mạnh tổng hợp trong quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển.
Từ năm 2009 đến nay, BĐBP Đà Nẵng đã tổ chức xuất kích 1.054 lượt tàu với hải trình 120.631 hải lý làm nhiệm vụ bảo vệ tàu thăm dò dầu khí kết hợp tuần tra, kiểm soát, quản lý bảo vệ chủ quyền vùng biển. Qua đó đã xua đuổi, ngăn chặn 1.926 lượt tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển nước ta; phối hợp chặt chẽ với các địa phương huy động 107 lượt tàu cá/793 ngư dân trực tiếp tham gia đấu tranh chống hoạt động xâm phạm chủ quyền vùng biển.
"Trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ BĐBP Đà Nẵng luôn nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, quân đội; kiên quyết, dũng cảm, mưu trí, khôn khéo xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống. Trong thực tiễn đã xuất hiện nhiều cách làm hay như tổ chức ký quy chế về công tác thông tin liên lạc giữa BĐBP với các tàu cá của ngư dân hoạt động trên biển; xây dựng bản mật danh báo tọa độ trên biển..." - Đại tá Phạm Bá Sơn nói.
Ông cũng cho biết, công tác quản lý cửa khẩu không ngừng được BĐBD Đà Nẵng đầu tư, đổi mới nội dung, thủ tục nhanh gọn, chính xác, tạo môi trường thông thoáng vừa bảo đảm an ninh, vừa phục vụ tốt chủ trương phát triển kinh tế đối ngoại và giao lưu quốc tế; chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng, đầu tư các trang thiết bị phục vụ tốt công tác cải cách thủ tục hành chính.
Hơn 4 năm qua, BĐBP TP đã làm thủ tục xuất nhập cảnh cho 5.594 lượt tàu với 273.785 thuyền viên, 235.754 lượt khách du lịch, 9.079.138 tấn hàng hóa; 21 lượt tàu quân sự với 2.134 thủy thủ đoàn. Đăng ký phương tiện thủy nội địa cho 12.395 lượt tàu/127.409 lượt thuyền viên, 9.745.600 tấn hàng hóa. Qua quản lý cửa khẩu đã xác minh, làm rõ 98 vụ với 181 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính 57 vụ/143 đối tượng với số tiền hơn 184 triệu đồng.
Từ năm 2009 đến nay, BĐBP TP đã xác lập 15 chuyên án; phát hiện, bắt giữ, điều tra 465 vụ với 772 đối tượng; khởi tố 37 vụ án hình sự/42 đối tượng, xử phạt vi phạm hành chính 343 vụ/606 đối tượng với số tiền 520 triệu đồng. Tang vật thu giữ gồm 661,957 gam và 56 tép hêrôin; 1.053 viên ma túy tổng hợp; 640 gam hàng đá; 458,578 gam và 83 gói cần sa, 2.400kg mì chính giả; 3.000kg quặng titan; 7.000 gói thuốc lá Jet; 1.600m3 dầu D.O; 25m3 gỗ, 56 xe máy, 65 điện thoại di động... Trên mặt trận đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại trên biển, BĐBP Đà Nẵng cũng phát hiện, bắt giữ 12 tàu với 21.138 tấn than trị giá hàng hóa gần 17 tỷ đồng.
Với những thành tích trong phong trào "Thi đua quyết thắng" 4 năm qua, BĐBP Đà Nẵng đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhất; Hải đội 2 (thuộc BĐBP TP) được phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng LLVT trong thời kỳ đổi mới.
Infonet
Thứ Ba, 18 tháng 12, 2012
Trung Quốc lại đưa đường lưỡi bò vào game
Cụ thể trong bản đồ các bang hội của trò chơi này, phần thể hiện mười quốc gia trong phiên bản "anh hùng thập quốc" có một hình bản đồ nhỏ bên góc phải phía dưới. Bản đồ nhỏ này thể hiện vùng biển Đông gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam nhưng lại nằm trong hình "lưỡi bò" của Trung Quốc.
Game thủ phản ứng
Anh Hải (quận Tân Bình, TP.HCM) tỏ ra rất tức giận: "Tôi là một game thủ đã chơi Chinh Đồ từ trước đến giờ. Tôi cũng như nhiều bạn khác chơi game này cho rằng việc bản đồ lưỡi bò là điều không thể nào chấp nhận được". Game thủ Tố Nga đã chơi Chinh Đồ ngay từ những ngày đầu tiên cũng cho biết: "Đây là một hành vi rất thâm hiểm của công ty phía Trung Quốc, nhưng Công ty VNG cũng đã phạm sai lầm khi để lọt tấm bản đồ trên. Họ cần phải xử lý việc này ngay lập tức"...
Nhiều game thủ khác kiến nghị cơ quan chức năng phải rà soát thật kỹ tất cả trò chơi trực tuyến xuất xứ từ Trung Quốc hiện đang lưu hành tại thị trường Việt Nam thông qua các công ty trong nước. Các phản ảnh đều có chung nhận định: "Công ty Trung Quốc đang lợi dụng chuyện kinh doanh để làm chính trị. Trong khi doanh nghiệp game online trong nước vì lợi ích riêng mà bỏ quên trách nhiệm với chủ quyền đất nước Việt Nam".
Game thủ chơi game Chinh Đồ 2.0 tại một tiệm Internet ở Q.Tân Bình, TP.HCM chiều 18-12 - Ảnh: NHƯ HÙNG
VNG bất ngờ
Yêu cầu gỡ bỏ ngay bản đồ lưỡi bò! Trao đổi với Tuổi Trẻ, bà Trần Thị Ngọc Hương, chánh thanh tra Sở Thông tin - truyền thông TP.HCM, cho biết trước mắt sẽ yêu cầu VNG gỡ bỏ ngay bản đồ lưỡi bò nêu trên. Đồng thời sở sẽ đối chiếu với kịch bản ban đầu trong hồ sơ của Công ty VNG. Nếu có sai sót, sở sẽ có biện pháp xử lý thích đáng. |
Trao đổi với Tuổi Trẻ về vấn đề này, ông Bùi Minh Phương, giám đốc khối phát hành game Công ty VNG, cho biết trò chơi Chinh Đồ được VNG nhập từ đối tác Trung Quốc và phát hành phiên bản đầu tiên vào hè năm 2008.
Từ đó đến nay, trò chơi luôn được cập nhật thường xuyên nội dung để hấp dẫn người chơi. "Lần cập nhật nội dung mới nhất của Chinh Đồ được thực hiện vào ngày 14-12-2012 và đưa lên máy chủ thực tế vào thứ bảy (15-12). Qua hôm sau, đội ngũ kỹ thuật của VNG đã phát hiện tấm bản đồ này và xóa bỏ vào đêm chủ nhật(16-12).
Phía VNG rất bất ngờ vì tấm bản đồ nằm ngoài bản yêu cầu nội dung cập nhật VNG gửi cho nhà sản xuất. Bản đồ nằm sâu trong phần hướng dẫn chơi game nên VNG đã không phát hiện sớm ngay khi thử nghiệm.
Tấm bản đồ có đường lưỡi bò không nằm trong thỏa thuận về nội dung khi hợp tác phát hành game, bởi nhà cung cấp đã tự động đưa vào và không cho nhà phát hành biết" - ông Phương nói.
Bà Đoàn Đỗ Ngọc Thi, trưởng ban truyền thông Công ty VNG, cho biết đây là một sai sót của VNG khi kiểm tra nội dung trò chơi, bởi phiên bản có rất nhiều chi tiết và tấm bản đồ này nằm sâu trong phần hướng dẫn chơi. Tiêu chí của VNG khi phát hành trò chơi là tôn trọng pháp luật Việt Nam, tôn trọng chủ quyền quốc gia và kiên quyết nói không với các đối tác không thực hiện nghiêm túc tiêu chí này.
Hiện VNG đã gửi công văn cho nhà sản xuất trò chơi Chinh Đồ về sự việc này. Tối qua, VNG cho biết đã chấm dứt hợp tác với nhà sản xuất này, bồi thường thiệt hại cho người chơi và ngừng phát hành trò chơi Chinh Đồ từ ngay ngày 19-12-2012.
Dù việc đóng cửa trò chơi sẽ gây thiệt hại rất lớn cho VNG nhưng là một doanh nghiệp do người Việt thành lập, VNG sẽ mạnh tay với các đối tác vi phạm nội dung liên quan đến văn hóa, chính trị và lãnh thổ. Theo bà Thi, hiện VNG đang phát hành năm trò chơi tương tự Chinh Đồ và bộ phận kỹ thuật của VNG đang rốt ráo rà soát nội dung của năm trò này để tránh sự cố như trên.
Giật phăng "mặt nạ" các tàu hải giám giả hiệu của Trung Quốc
Hiện nay, trên phân mục “Các tàu hải quân chuyển đổi thành hải giám” thuộc chương mục “Bạn có biết” của trang Web tìm kiếm nổi tiếng của Trung Quốc “Baidu” thông báo tổng cộng có 11 tàu hải quân Trung Quốc đã và đang hoán cải thành tàu hải giám. Con số này dự kiến còn có thể tăng lên trong thời gian tới, các tàu chiến trá hình thành tàu hải giám cụ thể như sau:
Tổng đội hải giám Bắc Hải có 03 tàu, bao gồm: Tàu kéo Bắc Đà 710 chuyển loại thành Hải giám 110; tàu phá băng Hải Băng 723 biến tướng thành tàu Hải giám 111, tàu quét/rải lôi 814 Liêu Ninh lớp 918 hoán cải thành Hải giám 112. Tất cả các tàu này đều do Hạm đội Bắc Hải bàn giao cho lực lượng hải giám.
Tổng đội hải giám Đông Hải gồm 03 tàu: Tàu kéo Đông Đà 830 biến đổi thành Hải giám 137, tàu đo đạc luồng lạch Đông Trắc 226 và tàu khu trục tên lửa 131 Nam Kinh (lớp 051 - Lữ Đại I) hiện chưa hoán cải xong. Các tàu này trước khi chuyển sang lực lượng hải giám đều trực thuộc hạm đội Đông Hải.
Tổng đội hải giám Nam Hải được biên chế nhiều hơn với 05 tàu là: tàu kéo Nam Đà 154 trở thành Hải giám 167, tàu điều tra hải dương Nam Điều 411 (nguyên là Nam Tiêu 411) được “phù phép” trở thành Hải giám 168, tàu trinh sát điện tử Hải Vương Tinh 852 (nguyên là Hải Dương 13 hay còn gọi là Hướng Dương Hồng 21) biến hóa thành Hải giám 169, tàu vận tải đổ bộ Nam Vận 830 và tàu khu trục tên lửa 162 Nam Ninh (lớp 051 – Lữ Đại I) hiện chưa hoán cải xong nên không rõ phiên hiệu.
Khảo sát tất cả các tàu hải giám đã hoàn thành chuyển loại cho thấy, tàu hải quân ở hạm đội nào thì sẽ biên chế về Phân cục hải giám khu vực đó. Số hiệu các tàu hải giám chuyển loại từ tàu hải quân đều được đánh bằng 3 số có quy luật. Tàu thuộc Tổng đội hải giám Bắc Hải bắt đầu là 11x, tàu thuộc hải giám Đông Hải có thể là 13x (mới được 1 tàu nên chưa khẳng định), các tàu thuộc hải giám Nam Hải bắt đầu là 16x.
Lực lượng ngư chính Trung Quốc cũng có 2 tàu thuộc loại lớn nhất trong khu vực là Ngư chính 311 và Ngư chính 206, dự kiến sắp tới sẽ có thêm 1 tàu được hoán cải từ tàu Nam Bác 952 của hạm đội Nam Hải. Tàu Ngư chính 311 nguyên là tàu cứu hộ Nam Cứu 503 của Hạm đội Nam Hải có lượng giãn nước 4500 tấn.
Tiền thân của Ngư chính 206 là tàu điều tra hải dương kiểu 636 mang số hiệu 871 “Lý Tứ Quang” (trước đây là Hải Dương 18), trực thuộc hạm đội Nam Hải. Đây là tàu điều tra hải dương rất hiện đại với hệ thống quan trắc, đo đạc biển tầng nước sâu 3 chiều và hệ thống thông tin liên lạc tiên tiến, có lượng giãn nước 5872 tấn, dài 129,82m, rộng 17m.
Âm mưu thâm độc...
Hiện các hình ảnh trên các trang mạng Trung Quốc cho thấy, ngoài việc sơn sửa lại phiên hiệu tàu và phù hiệu lực lượng, các tàu hải giám trá hình này không có gì thay đổi về kết cấu để phù hợp với các nhiệm vụ được chuyển đổi. Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều này qua các hình ảnh so sánh.
Những tàu hải quân chuyển loại đều có tốc độ cao, khả năng chống chịu sóng gió tốt hơn các tàu dân sự, hơn nữa, chúng có lượng giãn nước rất lớn (thấp nhất là tàu rải lôi 814 với tải trọng 1000 tấn) nên chiếm được ưu thế trong tranh chấp trên biển. Đơn cử ví dụ như tàu Hải Băng 723 (Hải giám 111) có lượng giãn nước thuộc dạng lớn nhất của tàu Hải giám Trung Quốc là 4420 tấn, vận tốc 20 hải lý/h, có thể phá vỡ các lớp băng dày tới 80cm, khả năng chịu va đập cực mạnh. Các tàu hải quân còn không va chạm nổi với nó nói gì đến các tàu chấp pháp, tàu cá? Ở khu vực Đông nam Á liệu có mấy tàu hải quân có tải trọng lớn bằng tàu Ngư chính 206 (5872 tấn), tàu Ngư chính 311 (4500 tấn), Hải giám 111 (4420 tấn) hoặc các tàu khu trục tên lửa chuyển loại?
Thế nhưng mục đích chính của Trung Quốc không phải là cần các tàu lớn để chiếm ưu thế trong tranh chấp trên biển, đây không đơn thuần là hành động tận dụng các tàu hải quân cũ để làm tàu chấp pháp mà chúng ta cần tỉnh táo nhận thức rõ vấn đề này, ẩn giấu đằng sau chiến lược “quân sự hóa các hoạt động chấp pháp” của Trung Quốc còn có một mưu đồ nguy hiểm hơn rất nhiều. Các tàu hải giám này được “phù phép” nhằm mục đích tiếp cận những khu vực tàu hải quân Trung Quốc không được phép bén mảng, thực hiện những nhiệm vụ mà tàu hải quân không thể thực hiện được trên lãnh hải của nước khác.
Các tàu hải quân hoán chuyển thuộc rất nhiều loại khác nhau, gần như bao hàm đủ cả các loại tàu thuộc một hạm đội hải quân chính quy. Chúng bao gồm: tàu kéo, tàu đo đạc luồng lạch, tàu điều tra hải dương, tàu trinh sát điện tử, vận tải đổ bộ và có cả các loại tàu tác chiến thực thụ như tàu rải lôi, tàu vận tải đổ bộ, tàu khu trục tên lửa và có thể cả tàu hộ vệ tên lửa.
Núp dưới danh nghĩa các tàu chấp pháp dân sự, các tàu điều tra hải dương như Nam Điều 411 có thể tiến hành các hoạt động điều tra đáy biển, thăm dò tài nguyên tại các khu vực mà nếu là tàu thuộc biên chế hải quân nó không thể tiến vào được, phục vụ âm mưu vơ vét tài nguyên khoáng sản trên đại dương của Trung Quốc trong tương lai.
Liệu có khi nào người Nhật nghĩ đến việc các tàu hải giám Trung Quốc sẽ tiến hành đo đạc, tìm kiếm, vẽ bản đồ luồng lạch các đảo ở Senkaku, trinh sát tìm luồng đường thuận lợi để phục vụ hoạt động đổ bộ đánh chiếm đảo trong tương lai? Các tàu Hải giám sẽ tiến hành hoàn hảo công việc mà các tàu như Đông Trắc 226 khi còn trong biên chế hải quân không thể làm được.
Liệu có ai ngờ rằng Hải Giám 137 (tàu rải lôi 814)
có thể mang theo 300 quả thủy lôi trong khoang ngầm?
Khi các tàu điều tra và đo đạc hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ đến lượt các tàu tác chiến, lúc đó chúng sẽ bất ngờ tiến hành các nhiệm vụ theo chức trách hải quân dưới cái lốt tàu chấp pháp.
Khi xảy ra xung đột trên biển, các tàu đổ bộ như Nam Vận 830 sẽ bí mật vận chuyển quân tiếp cận khu vực tác chiến, tàu Hải giám 112 (rải lôi 814) với 300 quả thủy lôi trong khoang ngầm tiến hành phong tỏa các con đường tiếp ứng của đối phương, tàu trinh sát điện tử tiến hành trinh sát và tác chiến điện tử, còn các tàu khu trục và hộ vệ tên lửa đảm nhận nhiệm vụ ngăn chặn máy bay và tàu chiến đối phương.
Với ưu thế bí mật, bất ngờ, nhiệm vụ tác chiến của một biên đội tàu hải quân sẽ được thực hiện hoàn hảo bằng một cụm tàu hải giám (Trung Quốc thường triển khai một biên đội từ 4-5 tàu hải giám và ngư chính trên khu vực tranh chấp), điều mà nằm mơ cũng không ai có thể nghĩ đến.
Đây không phải là một viễn cảnh mà là điều hoàn toàn có thể xảy ra, với các hành động và thủ đoạn trắng trợn đã từng thực hiện trong quá khứ, chúng ta cần cảnh giác đề phòng âm mưu thâm độc này.
Nguyễn Ngọc/ An Ninh Thủ Đô
Tổng hợp
Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012
Biển Đông: Nước ASEAN nào 'thần phục' hay 'thách thức' Bắc Kinh ?

Các Ngoại trưởng ASEAN tại Hội nghị AMM-45 ở Phnom Penh ngày 09/07/2012, hội nghị đầu tiên không có thông cáo chung vì bất đồng trên vấn đề Biển Đông. REUTERS/Samrang Pring
Đối với Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á ASEAN, sự kiện nổi bật của năm 2012 có lẽ là tình trạng chia rẽ về thái độ cần có trước Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông bị bộc lộ công khai trước công luận thế giới. Câu hỏi thường được đặt ra là quan điểm của từng thành viên ASEAN ra sao ? Nước nào “kính cẩn” trước Trung Quốc và ai dám “đối nghịch” với Bắc Kinh ? Diễn biến trong thời gian gần đây cho thấy là Cam Bốt có thể được xếp vào trong nhóm thứ nhất, còn Philippines đứng đầu nhóm thứ hai..
2012 : Năm ASEAN bộc lộ công khai sự chia rẽ
Trong năm 2012, ASEAN đã công khai cho thấy là nguyên tắc đồng thuận của mình bị phá vỡ theo một kịch bản hai hồi : Hồi thứ nhất tại Hội nghị Ngoại trưởng vào tháng Bảy, và hồi thứ hai tại Hội nghị Thượng đỉnh đầu tháng Mười một.
Tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN thứ 45 ở Phnom Penh, lần đầu tiên trong lịch sử gần nửa thế kỷ của mình, Hiệp hội Đông Nam Á đã không ra được Tuyên bố chung đúc kết hội nghị các Ngoại trưởng. Chủ tịch đương nhiệm của ASEAN là Cam Bốt đã không ngần ngại dùng đến biện pháp tột cùng kể trên để ngăn chặn việc tranh chấp Biển Đông giữa 4 thành viên ASEAN với Trung Quốc được ghi vào bản tuyên bố chung của khối.
Theo các nhà phân tích, Cam Bốt đã làm như vậy theo yêu cầu của Trung Quốc, nước đã trở thành nguồn tài trợ chủ chốt cho chính quyền Phnom Penh trong thời gian gần đây, và từ bao lâu nay vẫn dùng mọi biện pháp để cho các hành động quyết đoán của Bắc Kinh nhằm áp đặt chủ quyền trên Biển Đông không bị nêu lên trước các diễn đàn khu vực hay quốc tế.
Sự chia rẽ bị phơi bày tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN đã buộc Indonesia phải cố sức hàn gắn. Là thành viên có uy tín nhất trong Hiệp hội Đông Nam Á, ngay sau đổ vỡ tại Hội nghị Phnom Penh, Jakarta đã nỗ lực làm trung gian hòa giải, nhằm thống nhất lập trường của tất cả 10 thành viên trên hồ sơ gây bất đồng là Biển Đông.
Thế nhưng, cố gắng của Indonesia đã không thành công, và tại Hội nghị Thượng đỉnh vào tháng 11/2012, tình trạng chia rẽ của ASEAN lại bị nêu bật trở lại, khi kết luận của chủ tịch đương nhiệm là Cam Bốt - về việc toàn khối ASEAN đã nhất trí không quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông - đã bị nhiều thành viên công khai bác bỏ.
Đối với tất cả các nhà quan sát, ảnh hưởng ngày càng lớn mạnh của Trung Quốc trong khu vực, kèm theo chiến lược mua chuộc một số thành viên ASEAN để bảo vệ cho quyền lợi của Bắc Kinh, hai yếu tố này không xa lạ gì với sự chia rẽ trong nội bộ ASEAN về lập trường cần có để đối phó với Trung Quốc trong hồ sơ Biển Đông.
Thoạt nhìn thì có vẻ như là mâu thuẫn chủ yếu xuất hiện giữa một bên là các nước bị Trung Quốc lấn lướt trên Biển Đông, như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và bên kia là 6 nước còn lại, không liên quan gì đến tranh chấp ngoài biển khơi. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ thì vấn đề phức tạp hơn do mối lợi kinh tế, thương mại mà Bắc Kinh có thể mang lại cho vùng Đông Nam Á.
Trong bản báo cáo tại cuộc hội thảo về “Đông Nam Á và Trung Quốc trong thế kỷ 21” do Đại học Mỹ Stanford và Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nam Dương (Nanyang) tại Singapore đồng tổ chức trong hai ngày 15‐16/12/2012, Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Úc (Đại học New South Wales), đã bước đầu xem xét quan điểm của từng nước ASEAN đối với cuộc tranh chấp ngoài Biển Đông với Trung Quốc.
Báo cáo mang tựa đề “Thần phục hay Thách thức : Đông Nam Á, Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa (Deference / Defiance: Southeast Asia, China, and the South China Sea)”, nêu rõ ý định của tác giả là phân tích sơ bộ về « cách thức phản ứng của các quốc gia Đông Nam Á đối với sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc về chủ quyền ở Biển Đông ». Theo giáo sư Thayer : « Phản ứng của Đông Nam Á đi từ thái độ thách thức đến thần phục và nhiều khi kết hợp cả hai phương pháp tiếp cận này ».
Trong phần dẫn nhập, báo cáo của Giáo sư Thayer ghi nhận là ASEAN chỉ thực sự bắt đầu đàm phán ngoại giao với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông từ khi xảy ra sự cố Trung Quốc chiếm đóng bãi Vành Khăn (Mischief Reef) từ tay Philippines vào năm 1995. Kết quả của các vòng thương thảo này là bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký kết năm 2002. Các cuộc đàm phán vẫn tiếp tục cho đến giữa năm 2011 khi ASEAN và Trung Quốc nhất trí được về bản Hướng dẫn Thực hiện DOC.
Có điều là kể từ năm 2007, và tiếp tục cho đến nay, Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn trong việc thúc đẩy đòi hỏi chủ quyền của mình ngoài Biển Đông, đặc biệt nhắm vào Việt Nam. Giáo sư Thayer ghi nhận :
« Hành động quyết đoán của Trung Quốc bao gồm việc gây áp lực ngoại giao trên các công ty dầu mỏ ngoại quốc để họ không giúp đỡ Việt Nam trong việc phát triển tài nguyên dầu khí tại các vùng có tranh chấp, và gia tăng hành động hiếu chiến chống lại tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển xung quanh quần đảo Hoàng Sa.
Năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt… Trung Quốc chính thức đưa ra lần đầu tiên tấm bản đồ chín đường gián đoạn, đòi hỏi chủ quyền trên 80% Biển Đông. Các cơ quan dân sự của Trung Quốc sau đó đã nỗ lực hoạt động để khẳng định thẩm quyền (của Bắc Kinh) đối với những vùng biển này.
Điều đó đã dẫn đến nhiều sự cố giữa Trung Quốc với Philippines và Việt Nam, trong đó có hành động đuối một chiếc tàu thăm dò dầu khí ra khỏi vùng biển mà Philippines tuyên bố chủ quyền, và cắt các dây cáp trên tàu khảo sát địa chấn trong khu đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. »
Trong 10 nước Đông Nam Á, chuyên gia nghiên cứu Úc ghi nhận : Hai đối thủ chính dám thách thức Trung Quốc là Philippines và Việt Nam, hai nước có dấu hiệu thần phục Bắc Kinh là Thái Lan và Cam Bốt, trong lúc các quốc gia còn lại thì đứng giữa hai cực này, trong đó quan điểm của Singapore, Indonesia và Malaysia đáng chú ý hơn cả.
Cam Bốt - Thái Lan và ý hướng chiều lòng Trung Quốc
Thái độ thần phục Trung Quốc của Cam Bốt đã được rất nhiều nhà quan sát nêu bật. Báo cáo của giáo sư Thayer cũng nhắc lại các sự cố liên quan đến việc Cam Bốt lạm dụng quyền chủ tịch ASEAN để bác bỏ tất cả các yếu tố đi ngược lại quan điểm của Trung Quốc trên Biển Đông. Phần phân tích về Cam Bốt kết thúc như sau :
« Các nhà phân tích chưa thống nhất được với nhau về chi tiết và mức độ ảnh hưởng của Trung Quốc trong quyết định của Cam Bốt ngăn chặn thông cáo chung của Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN AMM-45. Ông Kishore Mahbubani, một cựu cán bộ ngoại giao cao cấp của Singapore, đã viết : « Cả thế giới, trong đó có đa số các nước ASEAN, đều cho rằng lập trường của Cam Bốt xuất phát từ áp lực ghê gớm của Trung Quốc ».
Theo phân tích gia Amitav Acharya (trên tờ báo mạng Asia Times) : (Tại Phnom Penh) chỉ có một số rất ít là không nghĩ rằng sở dĩ Thủ tướng Cam Bốt Hun Sen từ chối đáp ứng yêu cầu của Philippines và Việt Nam, đó là vì một phần do áp lực của Trung Quốc. Theo một nguồn tin cao cấp, Trung Quốc đã đặc biệt nhắc nhở Cam Bốt rằng cựu hoàng (Norodom) Sihanouk... đã công nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông.
Một học giả Trung Quốc thân cận với Bộ Công an nhà nước tiết lộ : « Chúng ta đã phối hợp rất tốt với Cam Bốt trong trường hợp đó [ngăn chặn các lời lẽ phản đối trong thông cáo chung của hội nghi AMM-45) và ... ngăn chặn một sự cố vốn đã có thể gây bất lợi cho Trung Quốc. »
Một nước ASEAN khác cũng thuộc diện « kính cẩn » đối với Trung Quốc là Thái Lan. Theo ông Thayer Thái Lan không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông. Lập trường của nước này thường là thích ứng (với đòi hỏi) và chiều ý Trung Quốc.
Thí dụ rõ nhất được giáo sư Thayer nêu bật là vụ Thái Lan bị nghi ngờ là đã kiểm duyệt nội dung về Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần thứ hai tại New York vào tháng Chín năm 2010.
Khi ấy, Hoa Kỳ đã chuẩn bị một dự thảo thông cáo theo đó các vị lãnh đạo « phản đối việc sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực bởi bất kỳ bên tranh chấp nào để áp đặt đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông ». Ba ngày trước Hội nghị, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố cho rằng các nước ASEAN không nên có lập trường chống lại các lợi ích của Trung Quốc. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc vào lúc ấy còn phản đối việc các nước không có liên quan đến Biển Đông lại can dự vào vấn đề này.
Kết quả là bản thông cáo chung Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ ASEAN lần 2 không nêu vấn đề sử dụng hoặc đe dọa dùng vũ lực, thậm chí còn không đề cập đích danh đến Biển Đông.
Theo giáo sư Thayer, có tin cho rằng chính Thái Lan đã đóng một vai trò quan trọng trong việc « pha loãng từ ngữ » trong bản thông cáo chung để khỏi xúc phạm đến Trung Quốc.
Philippines ở tuyến đầu mặt trận chống Trung Quốc
Bài khảo cứu của giáo sư Thayer trước hết đi sâu vào phân tích hai trường hợp điển hình của hai nước dám thách thức Trung Quốc là Philippines và Việt Nam.
Philippines là nước có thể nói là đứng đầu bảng tạm gọi là xếp hạng các nước dám đương đầu với Trung Quốc. Nhận xét chung của Giáo sư Thayer như sau :
« Philippines đã trục xuất Hoa Kỳ ra khỏi các căn cứ quân sự (trên lãnh thổ của mình) vào đầu những năm 1990. Lực lượng vũ trang Philippines chủ yếu tham gia các nhiệm vụ trong nước. Hải quân và Không quân Philippines bị xuống cấp một cách thê thảm, không đóng góp được gì nhiều cho việc phòng thủ chống ngoại xâm.
Thoạt nhìn thì rõ ràng là Philippines không thể nào là một ứng viên dám thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông.
Thế nhưng, với việc Tổng thống Benigno Aquino III nhậm chức ngày 30/06/2010 (...), và việc Trung Quốc tăng hoạt động hải quân trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines (...), trong số tất cả các nước Đông Nam Á có tranh chấp ở Biển Đông, Philippines đã trở thành nước lên tiếng manh mẽ nhất chống lại các hành động quyết đoán của Trung Quốc, thông qua các phản đối bằng con đường ngoại giao, các cuộc thảo luận song phương, các tuyên bố khẳng định chủ quyền, việc khôi phục liên minh với Hoa Kỳ, hiện đại hóa lực lượng võ trang, và khu vực hóa cũng như quốc tế hoá tranh chấp. »
Việt Nam : Trung Quốc vừa là ‘đối tác’ vừa là ‘đối tượng’
Về Việt Nam, sau một thời gian quan hệ băng giá với Trung Quốc, vào đầu thập niên 1990, Hà Nội bắt đầu chuyển hướng để thắt chặt bang giao với Bắc Kinh. Thế nhưng ngay từ năm 1992, Trung Quốc bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động khẳng định chủ quyền của Bắc Kinh trên các vùng mà Việt Nam tuyên bố là của mình ngoài Biển Đông. Giáo sư Thayer nhắc lại :
« Năm 1992, sau khi Trung Quốc và Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau hơn một thập kỷ lạnh nhạt do vấn đề Cam Bốt, Biển Đông đã nổi cộm trở lại thành cái gai trong quan hệ hai bên.
Trong tháng Hai, Trung Quốc ban hành một bộ luật về lãnh hải, nhắc lại chủ quyền của họ trên Biển Đông. Cùng lúc, Bắc Kinh cho chiếm đóng bãi san hô ngầm Three Headed Rock (Đá Ba Đầu - thuộc cụm Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa). Qua tháng Năm, Trung Quốc cấp cho công ty Mỹ Crestone Energy quyền thăm dò của tại bãi Tư Chính (Vanguard Bank), và đến tháng Bảy năm 1992, Trung Quốc đã trồng một cột mốc đánh dấu lãnh thổ trên rạn san hô Đá Lạc (Gaven Reef South). Các nơi này đều đã được Việt Nam tuyên bố chủ quyền. »
Cho dù vậy, theo giáo sư Thayer, giới lãnh đạo Việt Nam vẫn chủ trương củng cố quan hệ với Trung Quốc trên cơ sở vừa « hợp tác », vừa « đấu tranh » và chung sống hòa bình, như đã đề ra từ Hội nghị Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 6/1992, một chính sách được làm rõ thêm tại Hội nghị trung ương lần thứ 8 tháng 7/2003 với khái niệm « đối tác » và « đối tượng » áp dụng trong quan hệ đối ngoại.
Chính trong thời điểm đó mà vào tháng 3/1999, tại một hội nghị cấp cao của hai đảng Cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, phương châm « 16 chữ vàng » trong quan hệ song phương đã được đề ra, và cụ thể hóa thành chính sách nhân Hội nghị Thượng đỉnh giữa hai nước vào năm 2000. Theo giáo sư Thayer, đó là nền tảng chi phối bang giao Việt Trung cho đến tận ngày nay, mà đỉnh cao mới nhất là việc nâng cấp quan hệ song phương lên hàng « đối tác hợp tác chiến lược » vào năm 2009.
Tuy vậy, Việt Nam không phải là nước đã hoàn toàn « thần phục » Trung Quốc do tranh chấp giữa hai bên trên vấn đề Biển Đông. Giáo sư Thayer phân tích :
« Việt Nam sử dụng quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc để thể hiện sự ‘kính cẩn’ thông qua một mạng lưới liên hệ dày đặc của các cơ chế Đảng, Nhà nước, Quốc phòng và các cơ chế đa phương nhằm lôi kéo Trung Quốc vào trong một mạng lưới hợp tác song phương, với hy vọng dự phóng được các hành vi của Trung Quốc.
Tuy nhiên, do việc Biển Đông đã được chứng minh là một vấn đề khó giải quyết, Việt Nam đã tìm cách ‘khoanh vùng’ tranh chấp này, tránh không cho hồ sơ đó phương hại đến các khía cạnh khác của quan hệ song phương rộng lớn hơn.
Tóm lại, Việt Nam phát huy hợp tác với Trung Quốc trong khi vẫn thách thức/ đấu tranh chống Trung Quốc về các đòi hỏi chủ quyền ở Biển Đông. »
Báo cáo của giáo sư Thayer đã phân tích chi tiết, với nhiều dẫn chứng cụ thể, về cách Việt Nam áp dụng chiến lược nêu trên trong đối sách với Trung Quốc thông qua các quan hệ giữa hai đảng, hai Nhà nước, hai quân đội.
Đối với giáo sư Thayer một mục tiêu cụ thể của Hà Nội trong việc duy trì quan hệ hữu hảo với Bắc Kinh là « tìm kiếm được sự bảo đảm từ Trung Quốc rằng họ sẽ không dùng hoặc đe dọa dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. »
Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn tiếp tục đối phó với các hành động lấn lướt của Trung Quốc nhằm áp đặt đòi hỏi của Bắc Kinh trên các vùng thuộc Biển Đông mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Theo giáo sư Thayer, đó là « những phản ứng có cân nhắc, thể hiện thái độ thách thức/đấu tranh » chống lại các động thái quyết đoán của Trung Quốc.
Việt Nam với 5 phương thức đối đầu với yêu sách của Bắc Kinh
Phản ứng này có thể được phân ra thành 5 năm loại hình : Phản đối thông thường bằng con đường ngoại giao ; quốc tế hoá tranh chấp thông qua các diễn đàn đa phương ; tái khẳng định công khai về chủ quyền ; tự hiện đại hóa nền quốc phòng, và tăng cường quan hệ một cách có cân nhắc với Hoa Kỳ.
Về vấn đề quốc tế hóa tranh chấp Biển Đông, giáo sư Thayer đã đặc biệt ghi nhận thành công của Việt Nam thời giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2010, đã liên tục nêu được hồ sơ Biển Đông tại hai diễn đàn quốc tế quan trọng là Diễn đàn An ninh Khu vực ARF và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ADMM+, tập hợp 10 thành viên Đông Nam Á và 8 đối tác đối thoại của họ : Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Liên bang Nga và Hoa Kỳ.
« Trước cuộc họp ADMM +, Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN đã nhất trí rằng các vấn đề liên quan đến Biển Đông sẽ không nằm trong chương trình nghị sự chính thức, và sẽ không được nêu lên trong bản tuyên bố đúc kết hội nghị. Tuy nhiên, không có giới hạn hoặc điều kiện tiên quyết nào được đặt ra đối với 8 Bộ trưởng các nước ngoài ASEAN.
Trong cuộc họp, 7 nước bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Malaysia, Singapore và Việt Nam đã bày tỏ thái độ quan ngại về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Đúng theo dự trù, tuyên bố chung cuộc đã bỏ qua mọi tham chiếu liên quan đến Biển Đông, nhưng Việt Nam đã sử dụng quyền Chủ tịch để ban hành một tuyên bố chính thức nêu rõ :
Hội nghị ghi nhận rằng các thành viên quan tâm đến hợp tác an ninh hàng hải và đồng ý rằng cần có các nỗ lực tập thể để giải quyết những thách thức của nạn hải tặc, buôn người, và thiên tai trên biển. Một số đại biểu đã đề cập đến các thách thức an ninh truyền thống như tranh chấp ở Biển Đông. Hội nghị hoan nghênh những nỗ lực của các bên liên quan để giải quyết vấn đề bằng biện pháp hòa bình phù hợp với tinh thần của Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) năm 2002 và công nhận các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS 1982). »
Về chủ trương tái khẳng định công khai chủ quyền trên Biển Đông, các sự kiện được giáo sư Thayer xem là nổi bật trong năm 2012 là các diễn biến chung quanh việc Việt Nam thông qua bộ Luật Biển ngày 21/06/2012, một tuần lễ sau khi cho hai chiến đấu cơ Su-27 tuần tra hai tiếng đồng hồ trên quần đảo Trường Sa hôm 15/06/2012. Nguồn tin quân sự Việt Nam còn xác định rằng các cuộc tuần tra sẽ tiếp tục được tiến hành một cách thường xuyên.
Đối với giáo sư Thayer, đây là một phản ứng thách thức có tính toán chống lại các hành động quyết đoán của Trung Quốc.
Về bộ Luật Biển, theo giáo sư Thayer, lẽ ra bộ luật này đã được thông qua từ năm 2011, nhưng đã bị tạm hoãn để khỏi tác hại đến chuyến công du Trung Quốc của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 10/2011, và chuyến ghé thăm Hà Nội vào tháng 12/2011 của ông Tập Cận Bình.
Theo các nguồn tin Việt Nam, Bắc Kinh đã biết trước việc Hà Nội chuẩn bị thông qua Luật Biển Việt Nam, và đã tìm cách cản ngăn, nhưng hoài công. Và phản ứng của Trung Quốc rất tức thời với việc Tập đoàn Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC ngang nhiên mời quốc tế đấu thầu 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.
Về vấn đề hiện đại hóa quân đội, công việc này đã được Việt Nam thúc đẩy từ nhiều năm trước đây, và đặc biệt tăng tốc từ năm 2009, khi Trung Quốc công khai tỏ rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông với việc chính thức hóa tấm bản đồ hình lưỡi bò.
Theo nhận xét của giáo sư Thayer, nếu Nga tiếp tục là nguồn cung cấp vũ khí chính, Việt Nam cũng đã quay sang Israel, Hà Lan và Ấn Độ để đặt mua các phương tiện phòng thủ. Bên cạnh đó, các lãnh đạo Việt Nam cũng thúc đẩy Hoa Kỳ bãi bỏ các hạn chế áp đặt trên việc bán vũ khí cho Việt Nam, mà yêu cầu đã được chính bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh nhắc lại với đồng nhiệm Mỹ Leon Panetta nhân cuộc hội đàm tại Hà Nội vào tháng 6 năm 2012.
Trong phần kết luận, giáo sư Thayer cho rằng tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông có lẽ là thách thức lớn nhất đối với sự đoàn kết trong ASEAN vào lúc khối nước này muốn chuyển mình thành một cộng đồng gắn kết với nhau hơn. Tranh chấp Biển Đông không đối kháng các nước Đông Nam Á có đòi hỏi chủ quyền với Trung Quốc, mà còn đối lập cả ASEAN – trong tư cách một tập thể - với Bắc Kinh.
RFI
“Đường chính đoạn” là Chủ nghĩa bá quyền và là dây thòng lọng tròng vào cổ chính TQ
17/12/2012- (boxun.com) Tác giả người Trung Quốc viết: “… cách làm của chính quyền Trung Quốc quả thực chẳng khác nào một tên cướp bất tài mà lại ngu độn, đã chẳng cướp được thứ gì, chẳng trộm được vật gì, lại đi tung tin thứ đó là của mình, kết quả là bị mọi người nhìn với con mắt thù địch, nếu một quốc gia như thế mà không phải là đồ ngốc, thì còn ai là đồ ngốc đây?”
Trò hề hộ chiếu mới của Trung Quốc gần đây đã gây tranh cãi trên thế giới, nguyên nhân là chính quyền Trung Quốc đã vẽ những đất đai và vùng biển không thể có được vào trong hộ chiếu, khoan chưa nói đến những nơi đang có tranh chấp, mà ngay cả những vùng đất hoang cũng không đời nào lại có khả năng thuộc về Trung Quốc cả.
Tất nhiên, Trung Quốc cần phải giành lại những đất đai đích thực là thuộc về mình, vậy thì cũng cần phải dùng kênh ngoại giao thông thường, bao gồm cả các biện pháp quân sự cần thiết. Tuy nhiên, những hành vi hiện tại lại dường như là vô bổ trong việc giành lại đất đai, trong việc loại bỏ sự ghê tởm, khinh bỉ của các nước Đông Nam Á, khiến cho cư dân mạng Trung Quốc bị bối rối, hoặc gây phiền phức cho những người Trung Quốc đi ra nước ngoài, rồi sẽ còn những gì nữa đây?
Điều này khiến cho chúng ta nhớ lại lời lẽ “nước lớn chịu trách nhiệm” mà chính quyền Trung Quốc từng lải nhải mãi không thôi, thế nào gọi là chịu trách nhiệm? Ngay cả với một con người, ít nhất cũng cần phải thực sự cầu thị, làm được nói được, giữ phép tắc, có đạo đúc, lễ phép. Với một quốc gia lại càng cần nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn, rộng rãi hơn. Tuy nhiên, cách làm của chính quyền Trung Quốc hiện tại lại dường như đã đi ngược đường, không những không để cho bất cứ ai chịu trách nhiệm, mà trái lại lại còn đem tới cho người các nước hình ảnh một nước lớn vô trách nhiệm, bất chấp đạo lý, vô lý, không đếm xỉa gì đến trật tự thế giới, mà nói theo kiểu khó nghe thì quả đúng là đồ lưu manh.
Phải chăng chính quyền Trung Quốc hiện thời đã uống nhầm thuốc? Ai cũng biết là đất đai của Trung Quốc bị Nga ở phương Bắc xâm chiếm nhiều nhất, cả từ thời Sa Hoàng lẫn từ thời Stalin xô viết, song từ thời Mao Trạch Đông đến nay lại chưa hề dám có ý thu hồi lại, dù chỉ nói nửa chữ, vùng đất hơn 5,8 triệu km2 (tương đương với hơn nửa diện tích Trung Quốc hiện nay) đã bị mất. Thật là kỳ lạ! Chính quyền Trung Quốc sợ gấu Bắc Cực hay là cầu cạnh gấu Bắc Cực? Nếu nói là sợ thì cũng chẳng đến nỗi không dám nói, còn nếu nói là cầu cạnh thì không hiểu nổi, chính quyền Trung Quốc cầu cạnh Liên Xô cũ cái gì? Nếu chính quyền Trung Quốc hồi đó từng cầu cạnh Liên Xô cũ thì hẳn là đã lấy đất đai của người dân Trung Quốc đem ra mua bán mất rồi!
Kiểu vẽ đường 9 đoạn trên bản đồ Trung Quốc hiện giờ chính là quàng chiếc dây thòng lọng lên cổ Trung Quốc. Không phải chúng ta đưa ra kết luận này từ hình vẽ trông tương tự, mà là từ ý nghĩa của nó. Chúng ta không hề từ bỏ lãnh thổ Nam Hải của Trung Quốc, chúng ta cũng cần phải giành lại những đất đai này, song tất tật những lãnh thổ ấy đều là những hòn đảo nhỏ, cho dù những hòn đảo ấy không có tranh chấp mà thuộc hết về Trung Quốc đi nữa, thì Trung Quốc cũng không thể dùng đường 9 đoạn để biểu thị lãnh thổ, lãnh hải, mà chỉ có thể dùng vòng cung, dấu ngoặc để biểu thị. Bởi Nam Hải là biển chung, tuyệt đại bộ phận vùng biển không thuộc về bất cứ nước nào, vậy thì Trung Quốc dựa vào đâu để vẽ cái dây thòng lọng cho mình? Cho dù có vẽ “đường 9 đoạn” vào thì cũng có thể lấy được không? Không chỉ vô lý, làm càn, mà còn là sự khiêu dâm, nhạt thếch ở cấp quốc gia.
Nhìn vào bản đồ thế giới, sẽ không có nước nào, kể cả chủ nghĩa đế quốc cũ rich bá đạo, hồ đồ như Trung Quốc, lại không nói là dã man. Một khi đã sai lầm khi liều lĩnh coi là lớn trên thế giới để cắt cả biển chung của thế giới về lãnh hải của mình, thì nếu các nước trên thế giới mà cũng làm như thế sẽ chẳng mấy mà hỗn loạn. Chẳng trách ngày nay người các nước cứ ồn lên về thuyết mối đe dọa từ Trung Quốc, cách làm của chính quyền Trung Quốc quả thực chẳng khác nào một tên cướp bất tài mà lại ngu độn, đã chẳng cướp được thứ gì, chẳng trộm được vật gì, lại đi tung tin thứ đó là của mình, kết quả là bị mọi người nhìn với con mắt thù địch, nếu một quốc gia như thế mà không phải là đồ ngốc, thì còn ai là đồ ngốc đây?
Đường 9 đoạn trên hộ chiếu mới của Trung Quốc cùng các hành vi của mình đã vấp phải sự phản đối đồng lòng của các nước xung quanh, nếu vẫn tiếp tục làm càn tất sẽ phải chịu sự lên án của cộng đồng quốc tế, các công dân Trung Quốc ra nước ngoài đã gặp rắc rối và bị khinh rẻ, đó là do cách làm ấu trĩ của chính quyền Trung Quốc dẫn đến, đường 9 đoạn của Trung Quốc chính là chiếc dây thòng lọng tự mình quàng lên cổ, để cho người các nước kéo. Trung Quốc thu hồi lãnh thổ ở Nam Hải không cần đến đường 9 đoạn, Trung Quốc không nên tự quàng dây thòng lọng lên cổ mình.
Nguồn: boxun.com
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012
Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2012
Lấn lướt láng giềng, Đại Hán nghênh ngang chiếm biển
"Các hoạt động như xâm nhập vào vùng biển của tỉnh đảo mà không được phép... và công khai tham gia đe dọa an ninh quốc gia là phi pháp", tờ Nhật báo Trung Quốc viết. "Nếu các tàu nước ngoài hoặc thủy thủ đoàn vi phạm quy định đưa ra, cảnh sát Hải Nam có quyền tiếp quản tàu hoặc hệ thống thông tin liên lạc trên tàu".
Động thái ngày một quả quyết thậm chí là lấn lướt gây hấn của Trung Quốc đã làm phức tạp và tăng nhiệt cho một "điểm nóng" của châu Á - nơi có những tuyến đường vận chuyển nhộn nhịp nhất thế giới được cho là đảm nhận hơn nửa lượng vận chuyển dầu của toàn cầu.
"Điều này là không thể", Tướng Juancho Sabban, chỉ huy lực lượng quân sự Philippiines miền tây cho biết. "Đó là sự vi phạm luật pháp quốc tế, vi pháp quyền tự do đi lại quốc tế".
Ngoài Trung Quốc, còn một số nước châu Á tuyên bố chủ quyền với các đảo nhỏ trong khu vực được coi là vùng biển chiến lược với các vùng đặc quyền kinh tế giàu tiềm năng năng lượng, nguồn cá.
Tiến sĩ Ely Ratner, nhà nghiên cứu tại Trung tâm An ninh Mỹ mới cho rằng, động thái này biểu hiện cách thức sử dụng lối ngoại giao, kinh tế hoặc quân sự "áp chế" nhằm giành lợi thế trong yêu sách chủ quyền ở Biển Đông và Hoa Đông.
Tuy nhiên, điều mới mẻ ở đây là trong các cuộc xung đột khác - kiểu như bãi cạn Scarborough, hay cái gọi là "thành phố Tam Sa" hoặc quần đảo Senkaku - Trung Quốc biện hộ là phản ứng với sự khiêu khích từ các nước khác. Còn trong trường hợp mới nhất này, họ không tuyên bố đó là một phản ứng.
"Nó rõ ràng là sự leo thang và gây mất ổn định", Ratner nói. "Đó là hành động đơn phương của Trung Quốc, và là kiểu 'ra tay trước' mà mọi người luôn luôn lo lắng".
Theo chuyên gia Ratner: "Rõ ràng là về trung hạn, phản ứng ngoại giao từ khu vực và cả những cường quốc bên ngoài là khá mạnh mẽ" bởi nó gắn liền với thực tế rằng, nền kinh tế thế giới phụ thuộc nhiều vào tự do hàng hải, tự do qua lại ở Biển Đông.
Mỹ - quốc gia nhiều lần nhấn mạnh rằng, họ có một lợi ích quốc gia trong đảm bảo tự do hàng hải ở khu vực - đã và đang thay đổi nguồn lực quân sự hướng về châu Á.
Nhưng điều khiến Trung Quốc gây khó dễ với các nước khác là Bắc Kinh sử dụng các cơ quan phi quân sự và thực thi pháp luật (nghĩa là bớt đe dọa hơn so với việc sử dụng tàu hải quân) để lấn lướt ở Biển Đông. Nước này cũng không tỏ ra mặn mà trong việc xây dựng và phát triển một bộ quy tắc ứng xử cung cấp khuôn khổ hành xử cho các nước khác ở các khu vực tranh chấp trên biển.
Tuy vậy, điều đó cũng không có nghĩa là Trung Quốc sẽ áp dụng cách thức này trong thời gian dài. "Đó không phải là một chiến lược có lợi cho Trung Quốc trong dài hạn", Ratner nói. "Mỗi khi họ làm điều gì tương tự như vậy, điều chúng ta được chứng kiến là sự tăng cường hợp tác của các quốc gia trong khu vực; là yêu cầu gia tăng hiện diện cũng như tham gia các nỗ lực ngoại giao của Mỹ trong khu vực".
Sự tăng cường chú tâm của Mỹ với châu Á đã thúc đẩy nhiều nước đứng lên chống lại sự hăm dọa của Trung Quốc. Theo nhà nghiên cứu Ratner, các quốc gia trong khu vực và Mỹ có thể nói chung tiếng nói về vấn đề này. "Họ có thể cung cấp sự đối trọng ngoại giao ấn tượng cho các hành động của Trung Quốc".
Ratner nhấn mạnh rằng, Mỹ sẽ có khả năng tiếp tục đưa những sự cố đụng độ trên biển vào trong quan điểm rộng lớn hơn của mối quan hệ Trung - Mỹ. "Câu hỏi thực sự đặt ra là Trung Quốc sẵn sàng đi bao xa - nước này đã vượt qua luật pháp quy định hay thực sự đã sẵn sàng vươn ra biển lớn, bắt đầu bắt giữ các ngư dân hay bất cứ thứ gì đang ở vùng biển quốc tế hoặc ở vùng lãnh thổ tranh chấp nơi họ đánh bắt hay làm việc trong nhiều thế kỷ qua?", Ratner cho biết. "Trung Quốc giống như con voi trong phòng và là người cuối cùng sẽ quyết định giải quyết vấn đề một cách hòa bình hay không".
Nguyễn Huy theo Business Insider
* ("Con voi trong phòng" là cụm từ được dịch từ tiếng Anh "Elephant in the Room". Đây là thành ngữ ý muốn ám chỉ một vấn đề mà ai cũng biết, nhưng không ai dám nói ra do ngượng ngùng hoặc do đó là điều kiêng kỵ).
Trung Quốc đang làm gì trên biển?
Điều đáng nói là trong khi đưa ra những bài viết kể trên, ngày 11/12, tờ Nhân dân Nhật báo lại có bài bình luận với nhan đề “Người bạn tin cậy và đối tác chân thành của các nước đang phát triển”.
Trong đó nói rằng: Trung Quốc tăng cường đoàn kết, hợp tác với các nước đang phát triển và mãi mãi là người bạn tin cậy, đối tác chân thành của họ. Nhưng thực tế đang chứng minh ngược lại.
Lớn tiếng và toan tính
Ngày 12/12, tờ China Daily đăng bài viết với tiêu đề “Tính toán sai lầm của Manila”, trong đó chỉ trích tuyên bố của Ngoại trưởng Philippines Albert de Rosario khi ông này ủng hộ Nhật Bản từ bỏ hiến pháp hòa bình để trở thành đối trọng với Trung Quốc. Đồng thời cho rằng, Philippines đã sai lầm khi có thể dựa vào Mỹ và Nhật Bản để giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Trước đó (11/12), tờ Thời báo Hoàn cầu đăng bài viết có tựa đề “Việt Nam xem nhẹ ý chí bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc”, lớn tiếng vu cáo Việt Nam “ăn cắp” tài nguyên của Trung Quốc với sự giúp sức của “nước thứ ba”.
Thậm chí còn cáo buộc Việt Nam và Philippines đã châm ngòi cho tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc. Bài báo kêu gọi Trung Quốc tiếp tục sử dụng những hành động quấy phá hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam ở Biển Đông.
Nhằm hiện thực hóa tham vọng “đường lưỡi bò”, Trung Quốc tiếp tục có những hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa khi quyết định đăng ký thương hiệu địa danh Tam Sa.
Theo báo mạng Nam Hải, lãnh đạo của cái gọi là “thành phố Tam Sa” vừa tuyên bố, sẽ đầu tư 6 triệu NDT (khoảng 960.000USD) để đẩy mạnh việc phát triển ngư nghiệp, du lịch, dầu khí tại “Tam Sa”.
Chính quyền tỉnh Hải Nam cũng đang ráo riết chuẩn bị việc đăng ký thương hiệu địa danh cho 275 đảo thuộc cái gọi là “thành phố Tam Sa” với Tổng cục Công thương quốc gia Trung Quốc.
Được biết, cái gọi là “thành phố Tam Sa” sẽ đẩy nhanh việc xây dựng cơ sở hạ tầng như sân bay, cầu cảng, các thiết bị cung cấp điện nước... cũng như thành lập tòa án biển để xét xử các vụ án về thương mại biển và xung đột trên biển.
Tàu vào quần đảo Senkaku/Điếu Ngư
Ngày 12-12, lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cho biết, 3 tàu hải giám Trung Quốc đã đi vào vùng lãnh hải Nhật Bản, gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Đây là lần thứ 16 tàu Trung Quốc đi vào cùng biển này kể từ khi Nhật Bản mua 3 hòn đảo thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư (tháng 9).
Ngày 11-12, Nhật Bản đã gửi kháng nghị tới Trung Quốc về việc 2 tàu hải giám nước này bất chấp mọi cảnh báo đã tìm mọi cách xông vào khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Vụ trưởng Vụ châu Á, Bộ Ngoại giao Nhật Bản Shinsuke Sugiyama đã gọi điện trực tiếp tới Đại sứ quán Trung Quốc bày tỏ kháng nghị và yêu cầu Trung Quốc lập tức rút tàu hải giám khỏi vùng biển này.
Cảnh sát biển Nhật Bản cho hay, 2 tàu hải giám này không những dùng bảng điện tử với khẩu hiệu khẳng định cái gọi là chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, mà còn kêu gọi tàu Cảnh sát biển Nhật Bản “rời khỏi vùng biển chủ quyền của Trung Quốc” bằng tiếng Nhật và tiếng Anh.
Ngày 10-12, đội tàu Hải quân Trung Quốc đã tuần tra tại vùng biển gần quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và đây là lần thứ 2 tàu chiến của Hải quân Trung Quốc tuần tra tại vùng biển này kể từ tháng 10.
Trước đó (7/12), Thứ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Chikao Kawai đã triệu Đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản Trình Vĩnh Hoa tới để phản đối về vụ 4 tàu hải giám Trung Quốc liên tục xâm nhập lãnh hải Nhật Bản.
Ngày 11/12, tàu Ngư chính 206 - lớn nhất Trung Quốc với trọng tải hơn 5.800 tấn đã được hạ thủy tại Thượng Hải, thuộc biên chế tổng đội Ngư chính Đông Hải và có nhiệm vụ “bảo vệ ngư trường, giữ gìn chủ quyền ở vùng biển Đông Hải Trung Quốc”.
Việc điều tàu Ngư chính lớn nhất và hiện đại nhất tuần tra ở vùng biển gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư khiến dư luận đặc biệt quan tâm.
Giới chuyên môn cho rằng, Trung Quốc đang tăng cường năng lực thực thi pháp luật ở ngoài biển cũng như quyết tâm của Bắc Kinh sau khi Nhật Bản mua lại 3 đảo thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Cũng trong ngày 11/12, ông Khâu Diên Bằng, Phó tư lệnh Hạm đội Đông Hải, Chỉ huy biên đội tàu chiến tập luyện xa bờ hải quân Trung Quốc cho biết, kể từ nay trở đi Hải quân Trung Quốc sẽ thường xuyên tập luyện xa bờ. Được biết, từ 27/11 đến 11/12, 5 tàu chiến của Hạm đội Đông Hải đã tập luyện xa bờ và đây là lần tập luyện xa bờ lần thứ 7 trong năm nay của Hải quân Trung Quốc.
Quan ngại của Philippines và Malaysia
Theo tờ Daily Inquirer, trong 2 ngày 11 và 12/12, Mỹ và Philippines đã thảo luận về việc Mỹ mở rộng sự hiện diện quân sự ở Philippines.
Thứ trưởng Ngoại giao Philippines Basilio, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines Ba Dinuo và Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell đồng chủ trì cuộc đối thoại này.
Tàu hải giám Trung Quốc hoạt động ở khu vực Senkaku bất chấp mọi cảnh báo từ Cảnh sát biển Nhật Bản.
Thứ trưởng ngoại giao Philippines Carlos Sorreta cho biết, cuộc gặp tập trung vào quốc phòng, đặc biệt là sự hiện diện luân phiên của binh lính Mỹ tại Philippines.
Tờ South China Morning Post dẫn lời Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario nhấn mạnh, Bắc Kinh đang cố gắng bức chế Manila - yêu cầu phải làm thế này thế nọ và đây là điều không thể chấp nhận bởi không một quốc gia có chủ quyền nào muốn bị bức chế.
Ông Albert del Rosario hy vọng Trung Quốc sẽ nhận ra việc trở thành một thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế là lựa chọn tốt hơn là khoe gân cốt.
Bà Erlinda Basilio, Thứ trưởng Ngoại giao Philippines cho biết, các đại biểu tham dự cuộc đối thoại 2 ngày kể trên đã thảo luận về những biện pháp củng cố năng lực của các lực lượng vũ trang Philippines thông qua huấn luyện, đào tạo và các hoạt động khác.
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Kurt Campbell tuyên bố, quan hệ đồng minh Washington-Manila đang thực sự phục hưng bởi phát triển sâu rộng các mối quan hệ ở mọi cấp độ từ về chiến lược, chính trị tới kinh tế và quân sự.
Ngày 11/12, Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa cảnh báo về chuyện “ăn miếng trả miếng” giữa Trung Quốc và những nước khẳng định chủ quyền trên Biển Đông.
Ông Marty Natalegawa cho rằng, cần có một khung pháp lý để khuyến khích các bên tăng cường đối thoại. Ngoại trưởng Marty Natalegawa cảnh báo tình trạng căng thẳng ở Biển Đông có thể dẫn đến hiểu lầm, dễ tạo ra các phản ứng đáp trả theo kiểu ăn miếng trả miếng và vấn đề này sẽ tiếp tục kéo dài.
Do đó, hơn bao giờ hết, ASEAN và Trung Quốc cần thiết lập một nguyên tắc, một bộ quy tắc ứng xử có thể giải quyết vấn đề quyền lợi chung ở Biển Đông.
Hiệu trưởng Trường Chính trị xã hội thuộc Đại học Pelita Harapan (Indonesia) Aleksius Jemadu nhận định, thuyết phục Trung Quốc cam kết về một quy tắc ứng xử ở Biển Đông không phải là điều dễ dàng bởi Bắc Kinh đang muốn kiểm soát lợi ích chiến lược và giành chủ quyền ở phần lớn Biển Đông.
Những tiếng nói đáng quan tâm
Dư luận quan tâm tới nhận định của Tiến sĩ Hooman Peimani ở Viện Nghiên cứu năng lượng thuộc Đại học quốc gia Singapore viết trên tờ Bưu Điện Hoa Nam (Hongkong) ngày 11/12 khi cho rằng, Trung Quốc đang tìm cách ngăn chặn Mỹ tác động sâu vào cán cân quyền lực trong khu vực, cũng như không muốn quốc tế hóa vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.
Ngày 10/12 tờ The Nation của Thái Lan dẫn nguồn tin tờ Philstar của Philippines đăng bài xã luận với nhan đề: “Chúng ta đang bên bờ vực của ngoại giao pháo hạm”, trong đó vạch rõ âm mưu của Trung Quốc qua những động thái mới đây trên Biển Đông, trong đó khẳng định việc giới chức tỉnh Hải Nam cho phép cảnh sát biển kiểm tra tàu thuyền nước ngoài khi đi qua Biển Đông là hành động thách thức cả thế giới.
Trước đó (7/12), Subhash Kapila, chuyên gia vấn đề quân sự của Tập đoàn phân tích Nam Á (SAAG) Ấn Độ có bài viết cho rằng, Trung Quốc đang có ý đồ bắt chước cách làm đối phó với Liên Xô cũ của Mỹ thời kỳ Chiến tranh lạnh - ép buộc, lôi kéo Nhật Bản vào một cuộc chạy đua vũ trang nhằm làm suy yếu nước này về kinh tế, từ đó khiến Tokyo mất đi vị thế đối thủ cạnh tranh chiến lược của Trung Quốc ở khu vực Đông Á.
Tuy nhiên, nếu Trung Quốc thông qua chạy đua vũ trang làm sụp đổ Nhật Bản sẽ gây tranh cãi rất lớn về kinh tế, chính trị, chiến lược và không dễ dàng thực hiện được mục đích này. Bởi Nhật Bản giành được sự ủng hộ của Mỹ, EU, NATO và một số nước khác trong khu vực.
Trung Quốc không muốn thực hiện UNCLOS
Ngày 10/12, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Ban Ki-moon đã kêu gọi các quốc gia thực hiện Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) bởi UNCLOS được coi là “Hiến pháp của đại dương”.
Trong bài phát biểu nhân kỷ niệm 30 năm ngày ra mắt UNCLOS, ông Ban Ki-moon cho biết, UNCLOS sắp đạt được mục tiêu phổ quát toàn cầu mà Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đặt ra, khi 163 nước và Liên minh châu Âu đặt bút ký. UNCLOS quy định mọi khía cạnh liên quan tới biển và đại dương, bao gồm cách phân định biên giới trên biển, quy định về môi trường, nghiên cứu khoa học, thương mại và giải quyết tranh chấp quốc tế trên biển.
Phó chủ tịch Đại hội đồng Rodney Charles cũng cho rằng, UNCLOS đã trở thành nhân tố quan trọng trong khuôn khổ luật pháp quốc tế bởi thiếu vắng một khung pháp lý toàn cầu sẽ dẫn tới đe dọa xảy ra xung đột trên biển cũng như việc khai thác hỗn loạn và không được quản lý các nguồn tài nguyên biển.
Chủ tịch Hiệp hội Vận tải biển quốc tế, ông Masimichi Morooka ca ngợi UNCLOS “có tầm quan trọng sống còn” bởi vận tải biển quốc tế chiếm tới 90% thương mại thế giới.
Cách đây 30 năm (10/12/1982), UNCLOS được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam ký tại Jamaica, đánh dấu thành công của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển lần thứ 3, với sự tham gia của hơn 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ.
Kể từ khi có hiệu lực (16/11/1994), UNCLOS đã trở thành một trong những điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất của thế kỷ XX và là điều ước quốc tế phổ cập với 164 quốc gia thành viên (tính đến thời điểm hiện nay).
Với 320 điều khoản và 9 Phụ lục, UNCLOS được coi là “Hiến pháp của đại dương”, không chỉ bao gồm các điều khoản kế thừa từ các điều ước quốc tế trước đó về biển mà còn pháp điển hóa các quy định mang tính tập quán quốc tế, tồn tại qua một thời gian dài trong thực tiễn của các quốc gia, cũng như những xu hướng phát triển mới trong thực tiễn sử dụng và khai thác biển và đại dương.
Nhưng cách đây mấy ngày (11/12), tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng ở Hongkong đã có bài viết chỉ trích việc chính quyền tỉnh Hải Nam, Trung Quốc cho phép cảnh sát biển chặn, kiểm tàu nước ngoài hoạt động ở Biển Đông là phi lý và vô nghĩa. Giáo sư Carlyle Thayer, chuyên gia về Biển Đông của Đại học New South Wales ở Australia cho rằng, trong 26 cuộc hội thảo mà ông tham dự trong vòng 2 năm qua, những chất vấn đối với các học giả Trung Quốc về ý nghĩa của “đường lưỡi bò” không mang lại câu trả lời rõ ràng nào và không một ai ở Trung Quốc biết đến ý nghĩa của đường này bởi nó hoàn toàn phi lý.
Ngày 12/12, tại Đà Nẵng, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III và Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia TP HCM đã phối hợp tổ chức Hội thảo quốc gia về Hợp tác Biển Đông - lịch sử và triển vọng. Đa số các nhà khoa học và chuyên gia nghiên cứu đều cảnh báo rằng, các nước ASEAN cần có tiếng nói chung và hợp tác chặt chẽ với nhau để giải quyết trước tình trạng Trung Quốc liên tục, xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam và các nước khu vực Biển Đông, vi phạm luật pháp quốc tế. Các nhà nghiên cứu cũng nhận định: Trung Quốc đang từng bước hiện thực hóa cũng như kiểm soát quyền lực của mình từ những tranh chấp Biển Đông nhằm khống chế các quốc gia ven biển, buộc họ phải lệ thuộc vào Bắc Kinh. |
Theo Hồng Thất Công - Tuấn Quỳnh
Petrotimes
Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2012
Vòng cung bất ổn Đông Á
Trong Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 4 tại Hà Nội vào cuối tháng 11, GS-TSKH Kolotov Vladimir Nikolaevich có bài tham luận “Vấn đề biển Đông trong bối cảnh hệ thống an ninh khu vực tại Đông Á”. Thanh Niên trân trọng giới thiệu nội dung chính của tham luận này.
Tồn tại từ nhiều năm qua, vòng cung bất ổn tại Đông Á tác động mạnh đến tình hình biển Đông, nhất là khi Trung Quốc đang trỗi dậy.
Nối tiếp quá khứ
Vòng cung bất ổn Đông Á là hiện tượng địa chính trị có tính cơ bản trong hệ thống an ninh khu vực, được hình thành ngay sau Thế chiến 2. Thời chiến tranh lạnh, vòng cung bất ổn Đông Á chạy từ đông - bắc sang tây - nam qua quần đảo Kuril mà Nhật gọi là “lãnh thổ phương Bắc”, qua bán đảo Triều Tiên bị phân chia (Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc), qua Trung Quốc bị phân chia (Trung Quốc và Đài Loan), Việt Nam bị phân chia (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa). Mặc dù “chiến tranh lạnh” đã kết thúc nhưng tại “mặt trận” này vẫn không có nhiều thay đổi, nguy cơ bất ổn vẫn giữ nguyên như trước đây.
Vòng cung bất ổn Đông Á là một hệ thống khối và đối trọng phức tạp. Các căn cứ quân sự của Mỹ đóng trên lãnh thổ của những đối tác an ninh châu Á bao quanh vòng cung bất ổn từ hướng đông nam. Từ mạn đông - bắc của vòng cung bất ổn này là Nga và Trung Quốc, hai nước phối hợp hành động chủ yếu tại Trung Á và trong khuôn khổ Tổ chức hợp tác Thượng Hải. Hai nước tiến hành chính sách đối ngoại nhưng không chú ý phối hợp tại hướng đông - nam, dọc theo vòng cung bất ổn Đông Á thuộc biên giới của Nga và Trung Quốc.
Như vậy, vòng cung bất ổn Đông Á phản ánh những tuyến hay “phao tiêu” đã được hình thành trong lịch sử. Nếu chủ thể địa chính trị nào dám vượt qua “đường đỏ” đều bị xem là đối thủ và ngay lập tức hứng chịu sự phản đối. Hiển nhiên, một bên là việc tăng cường vị thế kinh tế và chính trị của Trung Quốc. Bên khác là nỗ lực của Mỹ cố duy trì ảnh hưởng tại khu vực này sẽ tạo nên một áp lực lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc gia tăng áp lực từ bên ngoài (Mỹ) và bên trong (Trung Quốc) lên khu vực cũng đang đẩy mạnh những tranh chấp lãnh thổ. Những nguy cơ bất ổn chính của khu vực Đông Á là do áp lực ngày càng tăng của Bắc Kinh tại hướng nam và của Washington ở hướng bắc. Cả hai trung tâm sức mạnh ở những mức độ khác nhau đều cố lôi kéo các đồng minh trong khu vực.
Vai trò Việt Nam
Từ nửa sau thế kỷ 19 và hầu như suốt cả thế kỷ 20 tại khu vực này, luôn diễn ra các cuộc chạy đua tranh thủ. Điều này chủ yếu liên quan đến vị trí địa chính trị của Việt Nam trong khu vực. Những nỗ lực xây dựng hệ thống an ninh khu vực mà thiếu sự tham gia của Việt Nam sẽ đều không thể thành công, số phận của khối SEATO (*) là một ví dụ chứng minh điều này. Từ đó có thể rút ra kết luận quan trọng mà đại diện nhiều cường quốc đã nhận ra là nếu không có sự ủng hộ của Việt Nam thì chẳng thể kiểm soát nguồn lực Đông Nam Á. Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn hoặc làm gia tăng sự bành trướng chiến lược của Trung Quốc tại hướng nam. Vì thế, các cường quốc đều muốn có sự ủng hộ của Việt Nam.
... nhiều cường quốc đã nhận ra là nếu không có sự ủng hộ của Việt Nam thì chẳng thể kiểm soát nguồn lực Đông Nam Á | ||
GS-TSKH | ||
Hiện tại, Mỹ đang củng cố vị thế của nước này tại đây khi Washington thông qua chính sách “Trở lại châu Á”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton gần đây thực hiện chuyến công du đến các nước trong khu vực. Theo nhiều chính trị gia, chuyến công du là nỗ lực kiềm chế Trung Quốc nhằm đáp lại việc Bắc Kinh gia tăng áp lực lên Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác tại biển Đông. Trong khi đó, Trung Quốc đang trỗi dậy và gia tăng áp lực xuống phía nam. Lịch sử đã nhắc nhở rằng: “Sự trỗi dậy của Trung Quốc luôn là nguy cơ đối với an ninh của Việt Nam”. Lịch sử cũng nhắc nhở Việt Nam cần thận trọng, đặc biệt đối với chiến lược “tằm ăn dâu” của Trung Quốc.
Nhiều bất ổn
Khi phân tích những yêu sách lãnh thổ hiện nay của Trung Quốc tại biển Đông có thể đưa ra nhận xét: Trung Quốc quá tự tin tại biển Đông nên đang tăng cường áp lực đối với Việt Nam. Việt Nam lựa chọn chiến lược khiến Trung Quốc hiểu rằng: Việc gia tăng áp lực đối với Việt Nam hoàn toàn phản tác dụng. Trung Quốc càng đơn phương áp đặt quyền kiểm soát biển Đông bao nhiêu, thì phản ứng quốc tế càng mạnh bấy nhiêu. Đồng thời, Washington càng tăng ảnh hưởng tại “sườn” Hoa Nam của Trung Quốc. Vì thế, tương lai của toàn bộ kế hoạch chung của Bắc Kinh tại biển Đông lẫn Đông Nam Á càng khó khăn hơn.
Mặt khác, nếu phân tích sâu hơn tình hình trong khu vực, đặc biệt tình hình tại Trung Quốc, thì chúng ta có thể rút ra kết luận rằng: Xung quanh Trung Quốc có nhiều điểm nóng tiềm năng và những điểm nóng này có thể sẽ gia tăng nếu Bắc Kinh bắt đầu thay đổi không gian xung quanh lãnh thổ của mình. Trước hết là không gian ở phía nam. Trung Quốc chỉ có một biên giới yên bình là mạn bắc với Liên bang Nga.
Hiện tại, không chỉ có Việt Nam mà toàn bộ Đông Nam Á đang là mục tiêu mà cả Mỹ lẫn Trung Quốc đều muốn tranh thủ. Theo đó, Washington cũng ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các sự kiện diễn ra trong khu vực. Năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã nhấn mạnh rằng: “Mỹ sẽ tăng cường sự hiện diện tại châu Á - Thái Bình Dương và việc cắt giảm ngân sách sẽ không ảnh hưởng tới những chi phí tại khu vực rất quan trọng này”. Thời gian gần đây xuất hiện thông tin về những kế hoạch triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Quyết định này gây ra cuộc chạy đua vũ trang ngày một tăng tại Đông Á.
Cuối cùng, tình hình khu vực có thể được đánh giá như sau: Cuộc đấu tranh giành giật nguồn tài nguyên mỗi năm một gia tăng và các đối thủ chính của cuộc chơi tăng cường tác động chính trị lên nhau. Ngoài ra, cũng phải kể đến nguy cơ của các cuộc xung đột vũ trang từ Bắc Phi đến Đông Nam Á cũng ngày một gia tăng. Đồng thời, một cuộc chạy đua vũ trang đang diễn ra tại Đông Á.
|
Thanh Niên
“Chìa khóa” giải quyết tranh chấp biển Đông
Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ, cho biết Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký kết và là quốc gia thứ 61 phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc (LHQ) về Luật Biển 1982 (UNCLOS). “Khi tham gia, Việt Nam ý thức được giá trị cơ sở pháp lý và bảo đảm được quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình ở thềm lục địa” - ông Trục khẳng định.
Tiên phong trong khu vực
Là người tham gia dịch thuật các tài liệu ra tiếng Việt và soạn thảo những văn bản pháp lý trước khi nước ta gia nhập UNCLOS, TS Trần Công Trục đánh giá cao thành công của Việt Nam sau khi ký công ước đặt nền tảng cho sự thiết lập một trật tự pháp lý mới liên quan đến các vấn đề biển và đại dương. UNCLOS đã tạo cơ sở giá trị xác định phạm vi các vùng biển một cách cụ thể; xác định quy chế pháp lý bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán và giải quyết các vùng chồng lấn theo nguyên tắc đàm phán hòa bình trên cơ sở công bằng.
Nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ cho biết Việt Nam đã chủ động vận dụng các nội dung đã được đưa ra thương lượng tại Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 của LHQ để xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về biển của mình, như tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12-5-1977 về các vùng biển và thềm lục địa. Đây là tuyên bố chính thức đầu tiên về biển, thềm lục địa của Chính phủ Việt Nam.
Theo TS Trần Công Trục, Việt Nam là một trong các quốc gia đầu tiên đưa ra khái niệm xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, có đường lãnh hải tính từ đường cơ sở cho phép mở rộng quyền của Việt Nam ra biển, không chỉ giới hạn trong quyền đánh cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác. “Đây là một văn bản điển hình, tiên phong trong khu vực đưa được ra một tuyên bố chuẩn xác, phù hợp với UNCLOS nên đã không gặp phải sự phản ứng nào từ các nước trong khu vực” - ông Trục khẳng định.
Giải quyết nhiều tranh chấp
Đánh giá về vai trò của Việt Nam kể từ khi gia nhập UNCLOS, ông Trần Công Trục cho biết nước ta đã chủ động triển khai mọi công việc cần thiết để công ước này được vận dụng; chấp hành một cách nghiêm túc, hiệu quả trong thực tế quản lý, khai thác các vùng biển và thềm lục địa của mình ở biển Đông, một khu vực tồn tại nhiều loại tranh chấp phức tạp. Trách nhiệm đó đã được thể hiện trước hết qua việc tiến hành nghiên cứu, từng bước hoàn chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là sau khi Quốc hội thông qua Luật Biển ngày 21-6-2012.
Theo nhìn nhận của các thành viên, Việt Nam là một trong những nước ở khu vực đi tiên phong trong việc triển khai thực thi nghiêm túc và hiệu quả nội dung của UNCLOS. Là nước đầu tiên trong khu vực dịch UNCLOS ra tiếng bản xứ (tiếng Việt), Việt Nam đã cho ban hành các văn bản pháp luật phù hợp với công ước; căn cứ vào các nguyên tắc, giải pháp giải quyết tranh chấp do công ước trù định để xúc tiến đàm phán hoạch định ranh giới biển, thềm lục địa với các nước láng giềng và đã thu được những thành quả đáng khích lệ.
Trên nền tảng UNCLOS, Việt Nam đã đàm phán thành công với một số quốc gia trong khu vực như giải quyết được ranh giới vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa trong vùng chồng lấn với Thái Lan ở vịnh Thái Lan ngày 9-8-1997; ký với Indonesia hiệp định phân định thềm lục địa ngày 26-6-2003 và đàm phán với Malaysia hợp tác cùng khai thác chung trong vùng chồng lấn 2.800 km2.
Ông Trục cũng nêu rõ những điểm mạnh trong các điều khoản của UNCLOS, giải quyết các tranh chấp, như có thể đưa ra “giải pháp tạm thời cùng khai thác chung nếu hai bên chưa đi được đến thỏa thuận”. “Đây là tiền lệ hết sức đáng lưu ý trong việc các bên giải quyết ranh giới vùng biển và thềm lục địa” - ông Trục nhận định.
Phê phán, bác bỏ yêu sách chủ quan
Đề cập quá trình Việt Nam áp dụng UNCLOS giải quyết các tranh chấp trên biển Đông, ông Trần Công Trục cho rằng tại đây đang tồn tại 2 loại tranh chấp chủ yếu: Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tranh chấp ranh giới biển, thềm lục địa. “Đây là những tranh chấp rất phức tạp và kéo dài. Để giải quyết các tranh chấp này, luật pháp và thực tiễn quốc tế đã chỉ rõ những nguyên tắc pháp lý đã được vận dụng khá phổ biến, không thể có sự nhầm lẫn được” - ông Trần Công Trục nhìn nhận.
TS Trần Công Trục lưu ý: UNCLOS chỉ là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn, không phải căn cứ để giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ. Việt Nam đã dựa vào công ước này để xúc tiến đàm phán phân định ranh giới biển, thềm lục địa và đã đạt những thành công, có nhiều đóng góp rất ý nghĩa trong việc giải quyết tranh chấp ranh giới biển, thềm lục địa giữa các nước trong khu vực và quốc tế. Việt Nam cũng kiên quyết phê phán và bác bỏ các yêu sách chủ quan không dựa vào những tiêu chuẩn của công ước này.
“Chúng ta không tách khỏi UNCLOS, tỏ rõ thiện chí của mình trong trách nhiệm giải quyết tranh chấp. Hiện thế giới rất quan tâm xem ứng xử của các bên tranh chấp trong giải quyết vấn đề ở biển Đông sẽ vận dụng công ước này đến đâu. Đây là vấn đề Việt Nam đang tiếp tục cùng các nước ASEAN phối hợp xử lý. Vận dụng ở đây phải là vận dụng một cách có trách nhiệm, cầu thị, khoa học và trung thực” - ông Trục đánh giá.
Dù khó khăn về kinh tế nhưng Việt Nam đã đầu tư xây dựng đèn biển trên các đảo mà chúng ta làm chủ nhằm bảo đảm hàng hải qua lại. Việt Nam đã và đang nỗ lực cùng khu vực và thế giới hợp tác nghiên cứu khoa học biển. Công tác nghiên cứu, thăm dò tài nguyên trong vùng biển thềm lục địa, phạm vi mình có chủ quyền cũng là đóng góp quan trọng cho công đồng khu vực, quốc tế…
TS Trần Công Trục cho rằng UNCLOS tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng khai thác một cách chính đáng trên các vùng biển, thềm lục địa và đại dương thuộc chủ quyền nước ta nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế. Việt Nam có quyền tham gia khai thác tài nguyên nằm ngoài vùng hải phận quốc gia gọi là vùng biển quốc tế, đáy đại dương… “Không được quên lợi ích lớn này của mình. Nhiều quốc gia còn ưu tiên về vùng biển quốc tế này nhiều hơn vùng chủ quyền họ đã có. Thông điệp của tôi là cần chú ý tới địa bàn này và cần quan tâm ngay từ bây giờ, nếu không sẽ quá muộn” - ông Trục lưu ý. Ông cho biết đến nay, việc xác lập và công bố hệ thống đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vẫn là nội dung còn để ngỏ, trong khi UNCLOS đã đề cập.
Bày tỏ sự lạc quan về tương lai phát triển của UNCLOS, ông Trần Công Trục cho rằng nếu tất cả các nước trên thế giới đều vì lợi ích chung và nhu cầu phát triển thì xu hướng này đang trở thành nguyện vọng chung của loài người trong việc khai thác nguồn tài nguyên biển trong thế kỷ XXI.
Tích cực vận dụng các quy định Đại sứ Lê Hoài Trung, Trưởng Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại LHQ, cho rằng là quốc gia ven biển với đường bờ biển dài trên 3.260 km, Việt Nam luôn tôn trọng mục tiêu và tôn chỉ của Công ước LHQ về Luật Biển 1982. Việt Nam đã, đang và sẽ tích cực vận dụng các quy định của UNCLOS trong những vấn đề trên biển; đồng thời kêu gọi các quốc gia cùng thực hiện đầy đủ công ước để xây dựng một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển bền vững. Theo Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo quy định của Công ước LHQ về Luật Biển 1982, sau gần 3 năm nỗ lực (từ 2007 đến 2009), Việt Nam đã hoàn thành báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa bảo đảm chất lượng, xác định một cách có cơ sở khoa học và pháp lý phạm vi thềm lục địa mở rộng ở biển Đông theo đúng tiêu chuẩn, quy định của Ủy ban Thềm lục địa LHQ. |
“Tiến lùi” đúng lúc Với TS Trần Công Trục, kỷ niệm đáng nhớ nhất của ông là cuộc đàm phán phân định ranh giới biển trong vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cuộc đàm phán kéo dài hơn 1/4 thế kỷ, kể từ đầu những năm 1970 cho đến ngày 25-12-2000, hiệp định này mới được ký kết. Theo ông Trục, trong quá trình đàm phán, hai bên đều đưa ra nhiều quan điểm khác nhau nhưng đều cho rằng có thể rút lại các yêu sách được coi là “không hợp lý”. Kinh nghiệm được đúc kết là cần phải biết “tiến lùi” đúng lúc mới mong có được giải pháp hợp lý trong các tranh chấp, đặc biệt là tranh chấp ở biển Đông. “Bằng tinh thần cầu thị và có trách nhiệm, Việt Nam đã chủ động thỏa thuận cùng Trung Quốc tiến hành đàm phán bằng con đường thông qua thương lượng hữu nghị, trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, có tính đến các hoàn cảnh hữu quan trong vịnh nhằm đi đến một giải pháp công bằng mà cả hai bên đều có thể chấp nhận được” - nguyên trưởng Ban Biên giới Chính phủ nhớ lại. |
Nguồn: NLĐ








