Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Ai đang chuẩn bị chiến tranh?

(PetroTimes) - Những tuyên bố mới đây của một số chính trị gia cùng lãnh đạo quân sự của Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ… đang khiến cho căng thẳng tại biển Hoa Đông và Biển Đông càng thêm phức tạp, thậm chí bao phủ một bầu không khí chiến tranh. Nếu những cuộc khẩu chiến hiện nay không được kiểm soát sẽ dẫn tới các hành động khó lường.

Khẩu chiến sẽ biến thành khai hỏa

Ngày 30/10, tờ Thời báo Hoàn Cầu cho rằng, Trung Quốc “chẳng còn gì để nói, cần chuẩn bị cho khả năng nổ ra xung đột” khi đề cập tới căng thẳng với Nhật Bản xung quanh tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Đây được coi là phản ứng của Bắc Kinh trước tuyên bố hôm 29/10 của Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản khi ông Itsunori Onodera coi hành động xâm nhập vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư của Trung Quốc đã đẩy khu vực vào trạng thái chông chênh giữa hòa bình với chiến tranh và điều này đã đẩy căng thẳng Trung - Nhật leo thang lên một nấc mới.

Thời báo Hoàn Cầu cũng coi Mỹ là “kẻ đứng sau giật dây” Nhật Bản khiêu khích Trung Quốc” bởi Washington không muốn đánh mất vai trò cân bằng ở Đông Á; đồng thời nhấn mạnh, chỉ cần Mỹ không công khai ủng hộ Nhật Bản giao chiến với Trung Quốc thì Bắc Kinh cần bỏ qua thái độ của Washington để tập trung vào việc “chế áp khiêu khích của Tokyo”. Theo giới phân tích, sau một thời gian “sóng yên biển lặng”, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản xung quanh tranh chấp lãnh thổ ở biển Hoa Đông lại được dịp tái “dậy sóng” khiến dư luận quan ngại về viễn cảnh một cuộc xung đột vũ trang có thể được châm ngòi bất kỳ lúc nào.

Trung Quốc khoa trương về hạm đội tàu ngầm
Trung Quốc khoa trương về hạm đội tàu ngầm

Trong cuộc trả lời phỏng vấn hôm 26/10, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố: Tokyo nên giữ vai trò hàng đầu trong cuộc chiến chống lại “nỗ lực của Trung Quốc” trong việc dùng vũ lực để đạt được mục đích ngoại giao. Đáp lại tuyên bố này, ngày 26/10, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cảnh báo Tokyo đừng xem nhẹ quyết tâm của Bắc Kinh trong việc áp dụng bất kỳ biện pháp cần thiết nào để bảo vệ bản thân.

Ngày 27/10, Thủ tướng Shinzo Abe lại tuyên bố: “Sẽ không dung thứ cho bất kỳ hành động sử dụng vũ lực nào nhằm tìm cách thay đổi thế nguyên trạng trong khu vực”. Đây rõ ràng là cảnh báo trực tiếp nhằm vào Trung Quốc bởi Tokyo thường xuyên cáo buộc Bắc Kinh tìm cách thay đổi nguyên trạng ở quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại, Trường đại học Thanh Hoa Lưu Giang Vĩnh cho rằng, phát biểu hôm 27/10 của ông Shinzo Abe đánh dấu việc Thủ tướng Nhật Bản bắt đầu khẳng định mạnh mẽ về mối đe dọa đến từ Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế, đồng thời kêu gọi các nước thúc đẩy Nhật Bản trở thành lực lượng cốt lõi “kiềm chế Trung Quốc”.

Ngày 28/10, người ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh tuyên bố: những bình luận khiêu khích của các lãnh đạo Nhật Bản liên quan đến Trung Quốc cho thấy phương pháp lừa dối của những chính trị gia này và sự ngạo mạn, lương tâm tội lỗi của họ. Bà Hoa Xuân Doanh cũng chỉ trích những phát biểu gần đây của Thủ tướng Shinzo Abe liên quan đến việc Trung Quốc âm mưu dùng vũ lực thay đổi hiện trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.

Cũng trong ngày 28/10, tờ Thời báo Hoàn Cầu còn cho rằng, chỉ cần một máy bay của Trung Quốc bị bắn rơi, các mối thù hận “trong sâu thẳm” giữa hai nước sẽ bùng phát, cục diện Đông Bắc Á sẽ sụp đổ theo hiệu ứng dây chuyền, xung đột Trung - Nhật rất có thể diễn biến thành một cuộc chiến tranh cục bộ. Còn theo ông Lưu Kiến Dũng, chuyên gia về Nhật Bản thuộc Trường đại học Thanh Hoa, Trung Quốc: Nhật Bản đang triển khai một cuộc chiến tâm lý và dư luận. Trong khi đó, Giáo sư Ngưu Trọng Quân thuộc Học viện Ngoại giao Trung Quốc cho rằng, tuy cả Trung Quốc và Nhật Bản đều không muốn có xung đột, nhưng rất khó để tránh những vụ khai hỏa nhầm!

Những động thái đáng ngại

Ngày 29/10, 2/5 tàu khu trục của Hải quân Trung Quốc đã đi vào vùng biển gần đảo Okinawa (giữa đảo Yonaguni và Iriomote) của Nhật Bản sau khi tham gia tập trận ở Thái Bình Dương. Trước đó (28/10), Trung Quốc lại “gây hấn” với Nhật Bản bằng việc điều các tàu tuần duyên đến khu vực quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Việc này diễn ra sau khi Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố, sẽ dùng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Bắc Kinh.

Cũng trong ngày 29/10, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera đã cáo buộc những hành động của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp ở biển Hoa Đông đang đe dọa đến hòa bình. Ông Itsunori Onodera coi việc trong tới 3 ngày liên tiếp, 4 máy bay quân sự Trung Quốc (2 máy bay ném bom và 2 máy bay cảnh báo sớm) liên tục bay qua lại eo biển Miyako nằm giữa đảo Okinawa và Miyako buộc Tokyo phải điều chiến đấu cơ cất cánh là động thái rất không bình thường. Do đó, Nhật Bản sẽ có những phản kháng thích đáng nhằm tránh những ảnh hưởng an ninh từ việc máy bay của Trung Quốc xâm nhập vùng trời quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản cũng cảnh báo, Bắc Kinh không nên chọc giận Tokyo.


Tàu sân bay trực thăng Izumo Nhật Bản

Theo kênh truyền hình quốc gia Nhật Bản Nippon Hoso Kyokai, các máy bay của không quân Trung Quốc bị phát hiện ở gần không phận Okinawa trong 3 ngày liên tiếp và theo Bộ Quốc phòng Nhật Bản, đây là lần đầu tiên Trung Quốc cho 4 phi cơ bay thành đội hình trên khu vực phòng không của nước này. Trước đó, Tokyo từng cảnh báo, sẽ bắn hạ các máy bay tuần tra xâm nhập không phận Nhật Bản. Theo nhận định của bà Chikako Ueki, chuyên gia quan hệ quốc tế thuộc Đại học Waseda, Thủ tướng Shinzo Abe không chỉ dọa suông bởi các quy định áp dụng cho máy bay có người lái khi xâm phạm không phận của một quốc gia cũng có thể được áp dụng trong trường hợp máy bay không người lái.

Ngày 28/10, Bộ Quốc phòng Nhật Bản tuyên bố, để đối phó với những hoạt động hải dương của Trung Quốc, Tokyo đang cân nhắc nhập máy bay trinh sát không người lái MQ-8 Fire Scout (hơn 160 chiếc), để kéo dài thời gian bay trinh sát, nâng cao khả năng giám sát tàu chiến và máy bay Trung Quốc ở khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Trước đó, Tokyo đã sử dụng máy bay trinh sát chiến lược RQ-4 Global Hawk để giám sát Senkaku/Điếu Ngư. Được biết, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cũng vừa công bố bản báo cáo sơ bộ dự toán ngân sách phòng vệ năm 2014, trong đó đặc biệt là kế hoạch mua sắm và triển khai vũ khí, trang bị hiện đại (của 3 lực lượng hải, lục và không quân) để đối phó với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Tokyo còn đẩy mạnh các hoạt động diễn tập quân sự liên hợp Thái Bình Dương với lực lượng không, hải quân và lính thủy đánh bộ Mỹ ở Hawaii.

Cũng trong ngày 28/10, Đài Truyền hình NHK Nhật Bản đưa tin, 3 hạm đội của hải quân Trung Quốc (Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải) đang triển khai diễn tập đối kháng chiến đấu thực tế biển xa mang tên “Cơ động-5” ở vùng biển phía nam Okinawa, Nhật Bản (từ 18/10 đến đầu tháng 11). Đây được coi là động thái nhằm kiềm chế Nhật Bản bởi Tokyo và Bắc Kinh đang đối đầu xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Hoạt động của 3 hạm đội kể trên đã bị tàu chiến và máy bay do thám của nước ngoài theo dõi chặt chẽ. Hành trình bay của máy bay ném bom Trung Quốc luôn bị máy bay nước ngoài bám theo, biên đội tàu chiến Trung Quốc cũng bị tàu chiến nước ngoài bám sát trong cự ly gần. Theo người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh, hoạt động và huấn luyện của máy bay Trung Quốc, trong đó có máy bay không người lái ở vùng biển có liên quan ở biển Hoa Đông phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Theo mạng Tạp chí Forbes của Mỹ, Thủ tướng Shinzo Abe đang mạnh dạn dẫn dắt Nhật Bản bước lên con đường độc lập về ngoại giao và quốc phòng. Trong khi đó tờ Học giả ngoại giao của Nhật Bản, những năm gần đây, Trung Quốc ngày càng kiêu căng, gây thù chuốc oán với các nước xung quanh và Bắc Kinh luôn áp dụng chính sách “chia để trị” đối với các nước láng giềng, nhưng hiện kiên quyết gạt Philippines và Nhật Bản ra khỏi “cuộc chơi”. Bởi Bắc Kinh cho rằng, Tokyo và Manila đều là đồng minh của Mỹ và không có biên giới đất liền với Trung Quốc.

Các nước hữu quan nâng cao cảnh giác

Ngày 29/10, Tân Hoa xã dẫn bài của trang mạng tuần san “Tin tức Quốc phòng” cho rằng, 5 năm tới, Ấn Độ có kế hoạch chi hơn 2 tỉ USD, mở rộng biên đội máy bay không người lái (UAV), trong đó có máy bay không người lái cỡ nhỏ (mini), để nâng cao năng lực tình báo, thông tin và giám sát biên giới. Trong tháng 10/2013, Lục quân Ấn Độ đã phát thư mời thầu để mua 49 máy bay không người lái nhằm theo dõi, giám sát và thu thập tin tức tình báo theo thời gian thực đối với các hoạt động, điều động nhân viên hoặc xe cộ, nhận biết mục tiêu và tin tình báo điện tử - thư tín. Và biên giới Ấn - Trung là một trong những địa chỉ ưu tiên của vấn đề này. Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng từng cho rằng, Ấn Độ đã thể hiện sự kiên nhẫn của mình trong quan hệ với Trung Quốc về một loạt vấn đề, trong đó có tranh chấp biên giới.

Ngày 30/10, tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trường Long đã tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishammuddin Hussein, theo đó 2 nước tiếp tục tăng cường giao lưu quân sự, thúc đẩy quan hệ song phương phát triển toàn diện và sẽ tập trận chung với sự tham gia của hải, lục, không quân trong năm 2014. Tờ The Straits Times từng dẫn lời ông Hishammuddin Hussein về việc xây dựng một căn cứ hải quân và thành lập lực lượng thủy quân lục chiến ở Bintulu. Và những động thái mới của Malaysia trên Biển Đông thời gian gần đây là tín hiệu cho thấy quyết tâm của Kuala Lumpur trong việc bảo vệ các lợi ích hàng hải của mình. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, mục đích thành lập căn cứ hải quân tại đây là nhằm bảo vệ trữ lượng dầu mỏ và các vùng biển lân cận. Căn cứ hải quân thành lập mới ở Bintulu rất gần bãi cạn James ở cực Nam quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam), nơi Trung Quốc từng tập trận bất hợp pháp trong năm nay.

Ngày 28/10, Mỹ đã hạ thủy khu trục hạm tàng hình mới nhất USS Zumwalt (có giá lên đến 3,5 tỉ USD) để phục vụ trong các chiến dịch bí mật. Đây được coi là động thái nhằm khẳng định vị thế độc tôn trên biển của Mỹ. Nhưng trước đó (25/10), trang web của Đài Phát thanh “Tiếng nói nước Nga” đã viện dẫn quan điểm của ông Zbigniew Brzezinski, chuyên gia địa - chính trị nổi tiếng của Mỹ lại cho rằng, Washington đang đứng trước nguy cơ mất địa vị bá chủ thế giới. Thông tin này xuất hiện cùng thời điểm giới truyền thông Mỹ bày tỏ sự lo lắng trước tình hình Đại Lục và Đài Loan ngày càng xích lại gần nhau, đồng thời cảnh báo về nguy cơ nếu Mỹ bị Trung Quốc hất cẳng khỏi Đài Loan thì vị thế của Washington càng bị thu hẹp.

Về phần mình, Chuẩn Đô đốc Mark Montgomery, Tư lệnh cụm tàu sân bay tấn công USS George Washington có căn cứ tại Yokosuka, Nhật Bản cho biết, việc mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ có tác dụng làm dịu những căng thẳng âm ỷ và các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực, đồng thời nhấn mạnh, sẽ có mặt ở Biển Đông nếu xảy ra xung đột. Ngày 28/10, tờ Philstar của Philippines đưa tin, Tập đoàn sản xuất máy bay AgustaWestland của Anh và Italia đã giành được gói thầu cung cấp 8 chiếc trực thăng tấn công AW-109 Power, trị giá 3,44 tỉ peso (khoảng 60,256 triệu USD) cho không quân Philippines. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines Fernando Manalo đã xác nhận thông tin này và cho rằng, số trực thăng này có thể được bàn giao vào năm tới nếu ngân sách sớm được phân bổ. Đây được coi là động thái tiếp theo kế hoạch nâng cấp quốc phòng của Philippines để đối phó với âm mưu độc bá Biển Đông của Trung Quốc.

Ngày 28/10, Tạp chí The Diplomat (Nhật Bản) đăng bài “Ba lý do ngoại giao về Senkaku/Điếu Ngư nên bí mật” của chuyên gia khoa học chính trị Mira Rapp-Hooper ở Đại học Columbia (Mỹ). Theo chuyên gia Mira Rapp-Hooper, Bắc Kinh và Tokyo chắc chắn muốn thương thảo về việc tổ chức một cuộc gặp cấp cao để giải quyết căng thẳng ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, nhưng hai bên hiện vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên, có ít nhất 3 lý do để hy vọng việc này sẽ tiếp tục. Thứ nhất, vấn đề tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư liên quan đến yếu tố tình cảm dân tộc rất lớn. Thứ hai, các thông tin gần đây cho thấy hai nước không phải lần đầu tiến hành ngoại giao bí mật về vấn đề Senkaku/Điếu Ngư. Thứ ba, ngoại giao bí mật có thể là một công cụ quan trọng vì các nước Đông Á và Mỹ rất quan tâm đến bản chất của thỏa thuận về Senkaku/Điếu Ngư.


http://petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/ai-dang-chuan-bi-chien-tranh.html

Ấn Độ có thể bán tên lửa đối đất Pragati cho Việt Nam

Trích dẫn các nguồn tin thân cận trong ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ, hãng tin INN của nước này tiết lộ rằng, cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Quốc phòng (DRDO) của Ấn Độ có thể cung cấp hệ thống tên lửa chiến thuật Pragati (một biến thể xuất khẩu của tên lửa Prahaar) cho Việt Nam.

Tên lửa chiến thuật Pragati
Tên lửa chiến thuật Pragati

"Tên lửa chiến thuật Pragati có tầm bắn từ 60 - 170km và có thể được cung cấp cho Việt Nam" - theo các nguồn tin thân cận của DRDO. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng có thể là một đối tác tiềm năng khác quan tâm đến tên lửa của Ấn Độ. Tuy nhiên, INN đã loại trừ khả năng này, bởi Seoul đang sử dụng hệ thống tên lửa chiến thuật MGM-140 (viết tắt là ATacMS) của Mỹ.

Được biết, Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Quốc phòng Ấn Độ (DRDO) đã ra mắt tên lửa chiến thuật mới Pragati tại cuộc Triển lãm công nghệ quốc phòng và hàng không vũ trụ quốc tế Seoul International Aerospace and Defence (Seoul ADEX 2013) ở Hàn Quốc. Trong đó, DRDO tuyên bố rằng, họ đã được chính phủ phê duyệt cho phép xuất khẩu loại tên lửa chiến thuật này cho những bạn bè thân thiết, nếu như họ quan tâm tới Pragati.

Loại tên lửa mới này có thân dài 7,4 m và đường kính 0,42 m, mang đầu đạn thường nặng 200kg. Pragati sử dụng nhiên liệu rắn và hệ thống ống phóng tự động (MLS). Cùng một lúc Pragati có thể phóng từ 2-6 quả tên lửa tùy theo thiết kế. Tốc độ phóng các tên lửa chỉ cách nhau 5 giây.

Tên lửa Pragati sử dụng kết hợp lực đẩy véc-tơ và kiểm soát khí động học để ổn định trong quá trình phóng lên và quỹ đạo bay để đạt được bán kính lệch mục tiêu nhỏ hơn 20 mét. Pragati được dẫn đường bằng sự kết hợp giữa hệ thống định vị quán tính Gyro Laser Ring (RLG) và hệ thống định vị toàn cầu GPS.

Hệ thống Pragati được triển khai nhanh chóng với khả năng bắn hàng loạt rocket nhờ vào hệ thống điều khiển gồm một lệnh tác chiến và 4 nút điều khiển qua cáp quang và liên kết không dây LOS. Hệ thống tên lửa được gắn với loại xe có khả năng di động cao HMV với 6, 4 hoặc 3 trục, tùy thuộc vào trọng lượng và số lượng ống phóng sử dụng tương ứng.

Ngoài ra hệ thống ống phóng còn được kết cấu hệ thống khớp trục và điện cơ tự động cho phép nó ổn định triển khai hoạt động nhanh chóng. Nó có khả năng triển khai trong chế độ độc lập hoặc chế độ tập trung.

Ấn Độ có kế hoạch xuất khẩu Pragati - chính phủ đã cho phép cung cấp tên lửa này đến các quốc gia thân thiện. Theo tuyên bố của phó giám đốc DRDO, công ty Ấn Độ Tata đã phối hợp phát triển Pragati cho quân đội nước này. Pragati có thể được coi là phiên bản xuất khẩu của tên lửa Prahaar, báo Times of India cho hay.

http://www.baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/inn-an-do-co-the-ban-ten-lua-pragati-cho-viet-nam-2358960/

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Lãnh đạo Quốc hội Mỹ: “Phải chặn đứng âm mưu chiếm đoạt Biển Đông”

(Infonet) Nếu thế giới không lên tiếng phản đối mạnh mẽ và tìm cách ngăn chặn những tuyên bố đầy mập mờ và nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông và Hoa Đông thì hòa bình và ổn định trong khu vực khó có thể được bảo đảm, Dana Rohrabacher, Chủ tịch Tiểu ban Đối ngoại của Hạ viện Mỹ tuyên bố.

Ông Dana Rohrabacher , Chủ tịch Tiểu ban Đối ngoại của Hạ viện Mỹ
Ông Dana Rohrabacher , Chủ tịch Tiểu ban Đối ngoại của Hạ viện Mỹ

Trong một cuộc điều trần trước Tiểu ban Đối ngoại về những đe dọa của các tuyên bố hàng hải do Trung Quốc đưa ra có thể ảnh hưởng đến tình hình an ninh khu vực và an ninh hàng hải, Chủ tịch Rohrabacher khẳng định, những hành động này của Bắc Kinh là có chủ ý, đã được chuẩn bị từ lâu nhằm mục đích mở rộng sự kiểm soát đối với những vùng biển ở Đông Á và Đông Nam Á thông qua các “chiêu bài” khiêu khích, thách thức và cuối cùng là thống trị khu vực.

Chính sách “Trục châu Á” sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu Mỹ không xóa bỏ được những mối đe dọa ở khu vực này, ông Chủ tịch tiểu ban nói.

Richard Fisher, thành viên cao cấp tại Trung tâm Đánh giá và Chiến lược quốc tế, cũng cho rằng việc sử dụng sức mạnh và áp lực bằng quân sự trong việc theo đuổi yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc đang gia tăng nguy cơ dẫn đến các cuộc đụng độ quân sự, đặc biệt là với Nhật Bản và Philippines.

Sự tăng cường quân sự của Bắc Kinh và hành vi đe dọa các đồng minh của Mỹ là nhằm thách thức khả năng của Washington trong việc bảo vệ những lợi ích của mình và do đó làm giảm độ tin cậy của các cam kết liên minh của Mỹ trong khu vực, vị chuyên gia này nói.

Trong thời gian qua, Nhật Bản đã liên tục kiềm chế để không sử dụng bạo lực với các lực lượng quân sự và bán quân sự của Trung Quốc nhăm nhe giành quyền kiểm soát quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư, nhưng khả năng của một biến cố quân sự ngày càng tăng, ông nói.

Các lực lượng của Philippines cũng đang bị Trung Quốc đánh bật khỏi những vùng biển truyền thống và thậm chí là bị ép phải từ bỏ cả những vùng biển nằm trong hoặc gần vùng đặc quyền kinh tế của mình (EEZ).


Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ ở Thái Bình Dương.

Steven Mosher, một chuyên gia nghiên cứu trong lĩnh vực nhân khẩu học ở châu Á cho rằng, Bắc Kinh đang áp dụng biện pháp cai trị bằng sức mạnh đối với người dân của họ vào việc đối xử với các nước láng giềng nhỏ và yếu của họ.

Điều này phần nào lý giải cho thái độ rất ngạo mạn và xem nhẹ các bên có liên quan trong tranh chấp Biển Đông, bao gồm cả Việt Nam và Philippines, đặc biệt là trong quá trình Trung Quốc đang nhắm đến mưu đồ thôn tính các quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, ông Mosher cho biết.

Đến nay, chỉ duy nhất có sự hiện diện liên tục của Lực lượng phòng vệ Nhật Bản dựa trên sự bảo lãnh của Hạm đội 7 của Mỹ là còn giữ được thế ngang ngửa với Trung Quốc. “Nếu không Hạm đội 7, rất có thể Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm các đảo còn lại trong Biển Đông và Biển Tây Philippines” ông Steven Mosher nói.

http://infonet.vn/The-gioi/Lanh-dao-Quoc-hoi-My-Phai-chan-dung-am-muu-chiem-doat-Bien-Dong/118428.info

VN sẽ tập trận chung với Malaysia

Theo nhật báo Malaysia, The New Straits Times số ra hôm nay, 03/11/2013, Chính quyền Malaysia đang tìm cách tăng cường quan hệ quốc phòng với Việt Nam bằng việc thiết lập một tuyến liên lạc trực tiếp giữa các căn cứ hải quân hai nước gần Biển Đông. Liên kết này sẽ cho phép hai bên trao đổi ngay với nhau mỗi khi nẩy sinh vấn đề tại Biển Đông.


Theo lời Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishamuddin Hussein, ông đã thảo luận với đồng nhiệm Việt Nam Phùng Quang Thanh hôm thứ Sáu 01/11 tại Hà Nội về những nỗ lực nhằm thiết lập đường dây trực tiếp nối liền Căn cứ Hải quân Vùng biển số 1 của Malaysia đặt ở Kuantan với Bộ phận chỉ huy Hải quân Việt Nam phụ trách khu vực phía Nam.

Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia cho biết là việc thành lập đường dây nóng này sẽ cho phép hai nước liên lạc ngay với nhau trong trường hợp xẩy ra bất kỳ vấn đề nào trên biển. Bên cạnh đó, Malaysia cũng mong muốn cùng Việt Nam thúc đẩy việc hình thành cơ chế Hợp tác Công nghiệp Quốc phòng ASEAN.

Bộ trường Quốc phòng Malaysia đã ghé Hà Nội sau ba ngày công du Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên ông Hishamuddin thăm Việt Nam kể từ khi ông được cử giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia vào tháng Năm vừa qua.

Nhân chuyến ghé thăm Việt Nam lần này, hai nước cũng đã đồng ý để tăng cường quan hệ quốc phòng, từ việc tổ chức các cuộc họp hàng năm ở cấp lãnh đạo, cho đến vấn đề trao đổi nhân sự trong giáo dục đào tạo, tiến hành tập trận chung, hợp tác thêm trong lãnh vực mới công nghiệp quốc phòng và tăng cường hợp tác trong vấn đề an ninh hàng hải.

Xin nhắc lại quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Malaysia rất tốt, kể cả trong lãnh vực đồng khai thác dầu khí ngoài khơi, cho dù hai bên vẫn có tuyên bố chủ quyền đối kháng nhau tại khu vực quần đảo Trường Sa.

http://www.nst.com.my/nation/general/malaysia-vietnam-may-link...

Nhật Bản tập trận mô phỏng đánh chiếm đảo


34.000 binh sĩ, 6 tàu chiến và 380 máy bay quân sự Nhật Bản sẽ tham gia tập trận, trong đó có những chiến dịch đổ bộ lên các hòn đảo không người ở giống như Senkaku.

Bắt đầu từ hôm qua (1/11), loạt tập trận kéo dài 18 ngày diễn ra đúng thời điểm căng thẳng đang tăng cao giữa hai cường quốc kinh tế láng giềng châu Á xung quanh những tranh cãi về quyền sở hữu quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku trên biển Hoa Đông.

Theo dự kiến, 6 tàu chiến và 380 máy bay quân sự Nhật Bản sẽ tham gia cuộc tập trận này, trong đó có những chiến dịch đổ bộ lên các hòn đảo không có người ở giống như Senkaku/ Điếu Ngư. Loạt tập trận diễn ra trên các đảo san hô ở Okidaitojima, cách đảo chính Okinawa 400 km về phía Đông Nam và cách xa quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku.

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe từng tuyên bố Tokyo sẵn sàng thể hiện thái độ quyết đoán hơn đối với Trung Quốc, nước bắt đầu tuần tra bảo vệ xung quanh các hòn đảo tranh chấp từ năm ngoái sau khi chính phủ Nhật Bản mua lại từ một chủ sở hữu tư nhân.

Đài truyền hình quốc gia NHK của Nhật Bản cho biết các tên lửa từ Hokkaido sẽ được vận chuyển đến Miyakojima, Okinawa để tham gia cuộc tập trận này. Bộ Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera nói rằng không một quốc gia cụ thể nào được đưa ra làm mục tiêu giả định.

Tuy nhiên, Du Wenlong, chuyên gia quân sự Trung Quốc cho rằng “những cuộc tập trận quy mô lớn đầu tiên ở phía Tây Nam Nhật Bản rõ ràng là nhằm vào quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku”.

Trước đó, hôm thứ Năm, Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã cáo buộc Nhật Bản về “hành động khiêu khích nguy hiểm” khi can thiệp vào cuộc tập trận của Bắc Kinh ở Tây Thái Bình Dương. Thế nhưng, Tokyo đã ngay lập tức bác bỏ.

“Chúng tôi thực hiện các hoạt động giám sát phòng ngừa thông thường, phù hợp với luật pháp quốc tế”, ông Onodera nói với các phóng viên, “Quan điểm của Trung Quốc là không thể chấp nhận được”.

Soha News, YouTube

Làm thế nào để đánh thắng Trung Quốc

VietnamDefence - Thách thức đang nổi lên do hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến nước Mỹ phải xem xét lại các chiến lược quân sự hiện tại và nghiên cứu xây dựng những chiến lược mới.

Hạm đội tàu chiến Mỹ ở Thái Bình Dương

Thách thức đang nổi lên do hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến nước Mỹ phải xem xét lại các chiến lược quân sự hiện tại và xây dựng những chiến lược mới, điều được minh họa bằng các cuộc tranh luận đang diễn ra về khái niệm “Tác chiến không-biển” (AirSea Battle - ASB), một khái niệm tác chiến mới được Bộ Quốc phòng đưa ra. Nhưng trong vô số những chiến lược có thể, ý tưởng về một chiến lược phong tỏa đường biển cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Bằng cách thực hiện phong tỏa đường biển, Mỹ sẽ khai thác sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào ngoại thương, đặc biệt là dầu mỏ, để làm suy yếu nhà nước Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa có tổ chức cẩn thận vì thế có thể trở thành một công cụ ghê gớm của sức mạnh quân sự Mỹ góp phần khắc phục thách thức đầy áp lực từ hệ thống vũ khí chống tiếp cận/phong tỏa khu vực(A2/AD) đáng gờm của Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa cũng có thể dễ dàng kết hợp với các chiến lược quân sự thay thế, kể cả những chiến lược dựa trên khái niệm ASB.

Trong bối cảnh một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ, nước Mỹ có thể cố gắng biến sức mạnh quốc gia lớn nhất của Trung Quốc - mô hình kinh tế định hướng xuất khẩu, tăng trưởng bùng nổ của họ - thành một nhược điểm quân sự lớn. Để làm như vậy, Mỹ sẽ thực hiện một cuộc phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc nhằm bóp nghẹt phần lớn hoạt động thương mại hàng hải của Trung Quốc. Trong những các điều kiện thuận lợi, Mỹ sẽ có thể giành chiến thắng bằng cách làm suy yếu nền kinh tế Trung Quốc đủ nghiêm trọng để buộc họ ngồi vào bàn đàm phán.

Tuy nhiên, cho đến gần đây, một chiến lược phong tỏa phần nhiều bị bỏ qua, có lẽ vì các chiến lược chiến tranh kinh tế dường như vốn đã là sai lầm trong điều kiện tồn tại các mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhưng nếu một cuộc xung đột nghiêm trọng nổ ra giữa hai nước, thì các lợi ích an ninh trực tiếp của hai nước sẽ nhanh chóng vượt lên trên sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại của họ và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn cho cả hai bên, bất kể một cuộc phong tỏa có được áp đặt hay không.

Ngay cả khi một cuộc phong tỏa không bao giờ thực hiện, thì khả năng thực hiện nó vẫn sẽ tác động đến chính sách của Mỹ và Trung Quốc vì lý do răn đe. Chiến lược khu vực của Mỹ được xác định trên niềm tin rằng, một cán cân quân sự có lợi sẽ răn đe và ngăn cản những âm mưu tiềm tàng của Trung Quốc tìm cách thay đổi hiện trạng bằng vũ lực, do đó có tác dụng trấn an các đồng minh và duy trì sự ổn định chiến lược.

Khả năng thi hành một cuộc phong tỏa ảnh hưởng đến tính toán này còn có thể có ảnh hưởng tương ứng đến các hành động của Mỹ và Trung Quốc, cả về quân sự và phi quân sự, vốn được dựa trên sự nhận thức về nó. Nếu một cuộc phong tỏa đường biển là một chiến lược khả thi, nó sẽ tăng cường hệ thống răn đe của Mỹ và làm giảm hiệu lực của bất kỳ nỗ lực tiềm năng nào của Trung Quốc nhằm ép buộc Mỹ hay đồng minh.

Hơn nữa, nếu tính khả thi của một cuộc phong tỏa có thể được nêu lên một cách rõ ràng, nó sẽ còn nâng cao sự ổn định khủng hoảng và làm giảm triển vọng leo thang do sự hiểu lầm ở cả hai bên về cán cân sức mạnh trong khu vực. Tóm lại, đúng như Elbridge Colby đã nói: “Một câu thành ngữ vẫn còn đúng là cách tốt nhất để tránh chiến tranh vẫn là hãy chuẩn bị cho nó”.

Trong khi một cuộc phong tỏa không phải là một điều không thể hoặc không thích hợp trong mọi tình huống, thì nó cũng không phải là một công cụ sẵn sàng trong kho vũ khí của Mỹ và sẽ chỉ khả thi chủ yếu trong những phạm vi nhất định. Quan trọng nhất, nhiều nhà bình luận bỏ qua một thực tế là một cuộc phong tỏa chính là một chiến lược phụ thuộc vào bối cảnh, điều phụ thuộc chủ yếu vào môi trường khu vực.

Bối cảnh chiến lược

Việc phong tỏa sẽ không được Mỹ khinh xuất sử dụng do chi phí tiềm năng lớn của nó. Do đó, Washington có thể sẽ chỉ xem xét thực hiện phong tỏa trong một cuộc xung đột kéo dài liên quan đến những lợi ích sống còn; bất cứ lý do gì nhỏ hơn sẽ không hợp lý khi phân tích chi phí-lợi ích cơ bản.

Nhưng quan trọng hơn là một chiến lược phong tỏa sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác của nhiều bên thứ ba trong khu vực. Nói cho cùng, hoạt động thương mại của Trung Quốc được thực hiện trên các vùng biển chủ yếu là kết quả của những tính toán kinh tế, chứ không phải là do những hạn chế vật lý; nếu Trung Quốc bị phong tỏa, họ sẽ chuyển sang các nước giáp giới để xin giúp đỡ.

Trong khi nhiều nước láng giềng của Trung Quốc sẽ không thể tạo ra sự khác biệt chiến lược vì địa lý hiểm trở hoặc lãnh thổ của họ quá nhỏ, ba nước có thể có vai trò thiết yếu là Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga. Nhật và Nga sẽ rất quan trọng trong việc giúp Mỹ cắt đứt các tuyến đường thương mại của Trung Quốc tương ứng ở phía nam và phía đông thông qua việc cấm vận quốc gia đối với Trung Quốc và gây sức ép với các nước láng giềng nhỏ hơn của họ cùng làm như vậy. Nếu không có sự hợp tác của họ, nhiệm vụ của Hoa Kỳ sẽ trở nên khó khăn hơn.

Nước cuối cùng trong ba nước láng giềng đó của Trung Quốc là Nga sẽ là có vai trò then chốt để phong tỏa thành công, và có thể làm nghiêng cán cân của phong tỏa nghiêng về phía lợi cho Trung Quốc hay Mỹ. Một mặt, Nga có vị trí khá thuận lợi để giảm bớt ảnh hưởng của cuộc phong tỏa đối với Trung Quốc. Hoạt động thương mại của Nga sẽ được miễn dịch trước sự ngăn chặn của Mỹ do kho vũ khí hạt nhân và các lực lượng, vũ khí thông thường của Nga có thể ngăn cản bất kỳ mưu toan ép buộc quân sự nghiêm túc nào của Mỹ.

Nhưng mặt khác, nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc cũng có thể rung hồi chuông báo tử cho khả năng chống phong tỏa của Trung Quốc. Ở cấp độ chính trị, Moscow vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng đối với các quyết định ở thủ đô các nước láng giềng Trung Á của Trung Quốc và có thể thuyết phục họ từ chối lời cầu xin của Trung Quốc để các nước này đóng vai trò như các quốc gia quá cảnh. Nga cũng có thể đảm bảo rằng, hai nhà sản xuất dầu láng giềng của Trung Quốc sẽ không còn cung cấp dầu cho Trung Quốc nữa.

Vì thế, để thực hiện được một cuộc phong tỏa có hiệu quả chiến lược đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ cố gắng xây dựng một “liên minh tối thiểu” với Ấn Độ, Nhật Bản và Nga. Nếu cả ba quốc gia cùng chung sức tham thực hiện cuộc phong tỏa của Mỹ, thì Trung Quốc sẽ bị đẩy vào vòng kiềm tỏa bóp nghẹt cả về kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, nếu không được thế, thì chiến lược phong tỏa sẽ “khu vực hóa” một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ theo một cách cơ bản là bất lợi cho lợi ích của Mỹ.

Một liên minh tối thiểu như vậy chỉ có thể ra đời theo một cách duy nhất: nhằm vào những sơ hở của hành động quyết đoán của Trung Quốc nhằm giành quyền bá chủ khu vực vốn có tác động thúc đẩy một sự ủng hộ của khu vực đối với sự phản ứng mạnh mẽ của Mỹ. Nếu không có yếu tố một Trung Quốc hung hăng, thì hành động cấm vận tập thể sẽ bị cản trở bởi những hậu quả tiềm năng của cuộc phong tỏa, trong đó hậu quả không nhỏ là nguy cơ xảy ra xung đột khu vực lớn hơn với Trung Quốc. Bốn nước (Mỹ, Ấn Độ, Nhật Nga) khó có khả năng tập hợp với nhau quanh một chính sách kiềm chế tiềm ẩn cho đến khi mỗi nước đều cảm thấy, lợi ích quốc gia của mình có thể bị Trung Quốc đe dọa trong tương lai.

Trong khi một khả năng như vậy hiện tại có thể cảm thấy xa vời, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga đều lo ngại, Bắc Kinh có thể một ngày nào đó kết luận là họ phải sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình và để giải quyết nan đề an ninh của họ trong những điều kiện thuận lợi. Cả bốn cường quốc ngày càng tìm cách bảo hiểm tiền đặt cược của họ để chống lại khả năng này. Nếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á tiếp tục tăng, thì sự liên kết giữa cả bốn quốc gia này sẽ được tăng cường, không phải vì bất kỳ niềm tin nào về ý định hiếu chiến của Trung Quốc, mà là vì sự bất định hoàn toàn về vị thế tương lai của họ.

Thách thức về mặt thực thi phong tỏa

Kể cả khi giả định rằng, Mỹ có thể tập hợp được một liên minh cần thiết, họ sẽ dứt khoát phải đối mặt với thách thức về thực thi phong tỏa gây rắc rối cho tất cả các chiến lược phong tỏa hiện đại.

Về mặt tác chiến, các cuộc phong tỏa được đặc trưng bởi khoảng cách từ bờ biển của quốc bị phong tỏa và chúng có hai hình thức: gần và xa. Một cuộc phong tỏa gần thường được thực thi bằng cách lập một hàng rào của các tàu chiến ở ngoài khơi bờ biển đối phương để lục soát tất cả các tàu buôn đến hoặc đi và ngăn chặn các tàu chở hàng lậu. Tuy nhiên, trong một thế kỷ rưỡi qua, các cuộc phong tỏa gần ngày càng trở nên nguy hiểm do các nước tham chiến đã phát triển được công nghệ tung sức mạnh từ bờ biển của họ. Để đối phó, các cường quốc tiến hành phong tỏa đã chuyển sang phong tỏa từ xa. Một cuộc phong tỏa từ xa giúp tránh được các nguy cơ về quân sự vì ở gần bờ biển đối phương bằng cách bố trí lực lượng, phương tiện phong tỏa ở xa, nhưng vẫn ngăn chặn được các tuyến đường biển của đối phương và do đó, nó triệt phá được hoạt động thương mại của đối phương giống như phong tỏa gần.

Một cuộc phong tỏa gần hay phong tỏa từ xa đối với Trung Quốc một mình nó không thể thành công do những hạn chế đặt ra bởi những yêu cầu quân sự và bản chất của thương mại hàng hải. Một mặt, một cuộc phong tỏa gần thông thường sẽ cực kỳ khó khăn vì Mỹ muốn giảm thiểu các nguy cơ quân sự cho các tàu chiến Mỹ. Một khi tiến gần hơn lãnh thổ Trung Quốc, các lực lượng Mỹ sẽ ngày càng đặt mình vào tầm uy hiếp của các hệ thống A2/AD của Trung Quốc, có thể làm hạn chế quyền tự do hành động của họ và kết quả là những tổn thất nặng nề. Các lực lượng Mỹ có thể tránh được mối đe dọa từ hệ thống A2/AD của Trung Quốc bằng cách tiến hành cuộc phong tỏa gần bằng các tàu ngầm, lực lượng không quân tầm xa và thủy lôi; nhưng bằng cách đó, cuộc phong tỏa cũng sẽ mất đi phần lớn khả năng của mình phân biệt giữa hoạt động thương mại trung lập và và hoạt động thương mại của kẻ thù.

Mặt khác, logic đằng sau các cuộc phong tỏa từ xa thông thường cũng bị mất hiệu quả như thế bởi các nhu cầu cấp thiết của thương mại hiện đại. Ngày nay, nguyên liệu thô và hàng hóa chở trên tàu biển có thể được bán và bán lại nhiều lần trong một hành trình, vì thế không thể biết quyền sở hữu và điểm đến cuối cùng của hàng hóa trên tàu cho đến tận khi tàu cập cảng. Mặc dù Mỹ có thể thiết lập một cuộc phong tỏa từ xa thông thường ngăn chặn tất cả các tàu thuộc sở hữu Trung Quốc hoặc mang cờ Trung Quốc, Trung Quốc vẫn có thể đơn giản là mua hàng hóa của các tàu chở hàng trung lập sau khi chúng đã đi qua vòng đai phong tỏa, làm thất bại hoàn toàn mục đích của cuộc phong tỏa.

Giải pháp: Phong tỏa hai vành đai

Để khắc phục sự ớt của hai kiểu phong tỏa, Mỹ sẽ tận dụng những gì tốt nhất của cả hai thế giới và thực hiện “hai vành đai” phong tỏa gồm hai vòng tròn đồng tâm bao quanh bờ biển Trung Quốc.

Trung tâm của phong tỏa hai vành đai sẽ là “vành đai bên trong” của nó, vốn sẽ là một sự phong tỏa gần khác thường chủ yếu nhằm vào việc ngăn chặn các tàu biển đi đến Trung Quốc mà không cần phải lên các tàu này trước. Vành đai này sẽ tạo ra một một vùng loại trừ xung quanh bờ biển Trung Quốc, khu vực bị tuyên bố là cấm vận chuyển thương mại và được thực thi bởi một chính sách “bắn chìm nếu trông thấy” thông qua việc sử dụng các tàu ngầm tấn công, không quân tầm xa và thủy lôi. Khác với các phương tiện quân sự khác, ba loại vũ khí này có thể hoạt động tương đối an toàn trong tầm hoạt động của hệ thống các phương tiện A2/AD của Trung Quốc bằng cách lợi dụng khả năng chống ngầm yếu ớt của Trung Quốc và lực lượng chống thủy lôi kém cỏi của họ. Trong khi bộ ba phương tiện quân sự này sẽ không đảm bảo tạo ra được hàng rào hoàn toàn không thể vượt qua đối với tàu bè, khu vực loại trừ vẫn có thể đạt được mục tiêu phong tỏa vì điểm tựa của chiến dịch của Mỹ sẽ được đặt vào khả năng răn đe hơn là vào vũ lực. Ngay sau khi các lực lượng Mỹ đã công khai đánh chìm nhiều tàu buôn lớn, phần lớn các tàu khác sẽ bị răn đe để không cố vi phạm lệnh phong tỏa và dòng chảy liên tục của thương mại hàng hải của Trung Quốc sẽ nhanh chóng cạn kiệt.

Nhưng trong khi tàu ngầm, không quân tầm xa và thủy lôi có thể thực thi hiệu quả một khu vực loại trừ như một phần của vành đai phong tỏa bên trong, tất cả các phương tiện này là các công cụ cùn, không thể nhận biết sự khác biệt giữa một tàu chở hàng hóa Trung Quốc và một con tàu vận chuyển hàng hoá Nhật Bản, chúng cũng không chặn lại, lên tàu khám xét và lùng sục các tàu nghi vấn. Kết quả là vành đai phong tỏa bên trong tự nó sẽ có khả năng gây ra những rắc rối chính trị lớn khi Mỹ vô tình đánh chìm các con tàu trung lập, và Washington có thể phải đối mặt thêm với những hậu quả chính trị do vùng loại trừ không thể để các hàng hóa đáp ứng nhu cầu y tế và các nhu cầu cơ bản đến được Trung Quốc.

Để đối phó với những hậu quả chính trị đó, Mỹ sẽ thiết lập một vành đai phong tỏa thứ hai, “vành đai ngoài” cho phép sử dụng vũ lực một cách có chọn lọc hơn, đồng thời có tác dụng như một thiết bị sàng lọc. Ngược lại với vành đai phong tỏa bên trong, vòng đai ngoài phần lớn sẽ bao gồm các tàu chiến tập trung vào cả việc phân biệt giữa các hoạt động thương mại khu vực khác nhau với độ chính xác cao hơn và lẫn bổ sung một thành tố phi sát thương vào những nỗ lực vô hiệu hóa có tính sát thương của vành đai bên trong. Vành đai ngoài sẽ không phải là một điều kiện tiên quyết cho thành công của hoạt động phong tỏa, mặc dù nó sẽ là một sự hỗ trợ lớn, nhưng nó sẽ là quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thành công chiến lược của nó.

Vành đai ngoài sẽ được thiết lập ở ngoại vi các vùng biển gần Trung Quốc, tức là bên ngoài tầm hoạt động của hệ thống A2/AD của Trung Quốc và sẽ được tập trung quanh các hành lang quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, trong đó có eo biển Malacca. Mỹ sẽ lập các trạm kiểm soát phong tỏa tại các hành lang (như eo Malacca) quan trọng nhất đối với giao thông đường biển quốc tế, trong khi các hành lang nhỏ hơn sẽ bị đóng hoàn toàn đối với giao thông tàu bè quốc tế.

Tại các điểm kiểm tra ở vành đai ngoài, Mỹ sẽ cần thiết lập và sắp xếp một chế độ kiểm tra nghiêm ngặt. Nếu Mỹ phát hiện ra một con tàu có đích đến Trung Quốc, do Trung Quốc sở hữu hoặc đăng ký tại Trung Quốc, thì Mỹ có thể chặn nó lại.

Mỹ cũng có thể áp dụng một hệ thống tương tự như hệ thống giấy quá cảnh Anh trong Thế chiến II, nó sẽ cung cấp cho Mỹ một bản đồ không gian khá chính xác về vị trí và đường đi của tất cả các tàu thương mại trong khu vực. Mỹ sau đó sẽ tích hợp các bản đồ không gian của các giấy quá cảnh với hỏa lực của vành đai bên trong để tạo ra một lực lượng mạnh mẽ chống lại những kẻ vi phạm chế độ phong tỏa, đồng thời cũng làm giảm tỷ lệ các sự cố đánh chìm tàu vô ý, nhất là các tàu chở hàng nhân đạo. Tuy là một quá trình không hoàn hảo, hệ thống giấy phép quá cảnh sẽ vẫn làm tăng đáng kể những rủi ro cho các con tàu né tránh phong tỏa đến mức vi phạm chế độ phong tỏa trở nên quá nguy hiểm khiến chúng không tìm cách vi phạm nữa, trừ những con tàu thích mạo hiểm nhất. Nhưng có lẽ còn quan trọng hơn là nó sẽ giúp giảm bớt những ảnh hưởng chính trị gây ra bởi việc tiêu diệt không phân biệt và gây chết người của vành đai phong tỏa bên trong.

Những hậu của cuộc phong tỏa

Mặc dù những hậu quả của một cuộc phong tỏa sẽ là cực kỳ phức tạp, đa dạng và phụ thuộc lẫn nhau, một cuộc phong tỏa cũng sẽ có thể chứng tỏ là một công cụ làm kiệt sức mạnh mẽ như một phần của chiến dịch tổng thể của Mỹ.

Nhưng trước hết phải công nhận rằng, ngay cả sự phong tỏa hiệu quả nhất cũng sẽ không thể ngăn chặn hoàn toàn các hoạt động thương mại của Trung Quốc, bởi vì ngay cả trong những điều kiện lý tưởng, Trung Quốc vẫn sẽ có khả năng mua được các mặt hàng và tài nguyên thiết yếu nhờ những quy luật không thể né tránh của cung và cầu. Lệnh cấm vận trong khu vực mà Mỹ thiết lập càng hiệu quả, thì tỷ suất lợi nhuận từ việc bán hàng nhập khẩu vào Trung Quốc càng cao. Ngay cả khi tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc đồng tình cấm vận nước này, Mỹ vẫn sẽ phải bó tay với nạn buôn lậu tràn lan ở cấp độ phi nhà nước.

Một cuộc phong tỏa cũng sẽ không thể trực tiếp làm suy yếu quân đội Trung Quốc. Ví dụ, Trung Quốc có thể các nguồn dự phòng và kho dự trữ của mình, cùng với một mức độ nhập khẩu hạn chế và sản xuất trong nước, để cung cấp nhiên liệu cho bộ máy quân sự của mình trong suốt cuộc xung đột.

Vì vậy, giá trị thực của một cuộc phong tỏa sẽ là khả năng của nó bắt Bắc Kinh phải chịu sự thiệt hại tài chính cực lớn. Đặc biệt là một cuộc phong tỏa sẽ đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào tình trạng suy sụp bằng cách đánh vào ba yếu huyệt: sự phụ thuộc kép của Trung Quốc vào cả nhập khẩu nguyên liệu trung gian và nhập khẩu nguyên liệu thô và mức độ sáng tạo nội địa thấp. Trung Quốc đã cơ cấu phần lớn nền kinh tế định hướng xuất khẩu của mình xung quanh việc nhập khẩu các hàng hóa trung gian, một hiện tượng đặc biệt rõ trong các khu vực công nghệ cao của kinh tế Trung Quốc. Điểm yếu này bị khoét sâu thêm bởi sự phụ thuộc khó tin của Trung Quốc vào nguyên liệu thô (trong đó có dầu mỏ) và sáng tạo công nghệ của nước ngoài làm cơ sở của các quá trình sản xuất của Trung Quốc.

Do cuộc phong tỏa nhằm vào cả ba khu vực này, nó sẽ gây ra thiệt hại đáng kinh ngạc cho Trung Quốc. Tất nhiên là Trung Quốc có thể dần tìm ra cách khắc phục cho mất đi khả năng tiến hành hoạt động thương mại và họ có thể tái thiết nền kinh tế của mình từ dưới lên trên, nhưng một cuộc xung đột tiếp diễn hiển nhiên vẫn có thể gây ra một tốc độ tiêu hao kinh tế thật khủng khiếp, vượt quá khả năng bù đắp của Bắc Kinh.

Kết luận

Bối cảnh, việc tiến hành và những hậu quả của một cuộc phong tỏa Mỹ đối với Trung Quốc sẽ bị chìm sâu vào vũng lầy của chính trị toàn cầu. Để vượt qua thành công những thách thức khác nhau của cuộc phong tỏa, Mỹ và các đồng minh sẽ phải cân nhắc cẩn thận những ảnh hưởng chiến lược của các hành động của họ với sự đóng góp của chúng cho hiệu quả của sự phong tỏa tổng thể. Trong gần như mọi hoàn cảnh, sự đánh đổi sẽ là vô cùng khó khăn về chính trị và sẽ đòi hỏi một mức độ linh hoạt cao và sáng tạo từ phía Mỹ. Những tính toán thiệt hơn sẽ được thực hiện với những cân nhắc khác nhau trong tâm trí mà trên hết là giá trị của các lợi ích của Mỹ bị tác động trong cuộc xung đột.

Tuy nhiên, bất chấp những thách thức lớn, một cuộc phong tỏa đường biển là có thể cả về mặt thực thi lẫn về mặt chiến lược, mặc dù chỉ ở trong giới hạn nhất định. Thậm chí bất chấp một cuộc phong tỏa hiệu quả tối đa, Trung Quốc vẫn sẽ có thể đáp ứng các nhu cầu quân sự của mình một cách vô thời hạn và Trung Quốc có thể tồn tại dựa trên các nguồn dự trữ dầu chiến lược, các kho dự trữ và lượng dự trữ ngoại tệ lớn trong một thời gian dài. Kết quả là, hiệu quả của cuộc phong tỏa sẽ tạo ra khả năng làm suy yếu kinh tế đối với Trung Quốc.

Nếu Mỹ có thể xây dựng được một liên minh tối thiểu gồm Ấn Độ, Nhật Bản và Nga, một nhiệm vụ sẽ phụ thuộc vào hành vi hung hăng của Trung Quốc, thì tốc độ suy kiệt kinh tế của Trung Quốc sẽ tăng đột biến thậm chí cả khi Mỹ giành được sự ủng hộ chính trị, Mỹ cũng sẽ phải tiếp tục chiến lược phong tỏa vô thời hạn. Trong bối cảnh này, khi mà Mỹ sẽ không thể lợi dụng sự phụ thuộc của Bắc Kinh đối với thương mại hàng hải để đánh bại hẳn Trung Quốc trong một cú đấm nhanh, nó vẫn có thể giúp tiêu hao sinh lực của Trung Quốc cho đến khi Bắc Kinh cuối cùng phải chịu quy phục.

---------

Sean Mirski là đồng biên tập của công trình “Điểm then chốt của Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ và trật tự toàn cầu đang nổi lên” (Crux of Asia: China, India and the Emerging Global Order). Bài viết này dựa trên một bài dài hơn đã được công bố trên tạp chí Journal Strategic Studies.


Nguồn: How to Win a War with China / Sean Mirski // The National Interest, 1.11.2013.

Vũ khí Trung Quốc có thể diệt tàu ngầm Kilo

(ĐVO) Lực lượng Hải quân Trung Quốc không có trong biên chế các chiến hạm chuyên chống ngầm, ngoại trừ một số lượng rất lớn các xuồng tuần tiễu hãng nhẹ, có nhiệm vụ tuần tra kiểm soát các vùng nước ven bờ và chống ngầm. Tổng số xuồng tuần tiễu có 95 chiếc kiểu "Hải Nam", 22 chiếc "Hải Ju", 2 chiếc "Hải Qi", 17 chiếc "Thượng Hải-3" và 98 chiếc "Thượng Hải-2".

Vũ khí ngầm cơ bản của các xuồng tuần tiễu chủ yếu là bom chìm (khoảng 24.310 quả bom chìm phản lực và bom chìm), số lượng bom chìm khoảng 2500 quả. Xuồng tuần tiễu có nhiệm vụ chống ngầm các khu vực ven biển, vùng nước quanh các căn cứ quân sự Hải quân.

Trên biển lớn, tiềm lực chống ngầm của hải quân PLA là các loại vũ khí chống ngầm và đài sonar trinh sát, tìm kiếm tầu ngầm trang bị cho các tàu khu trục và khinh hạm. Đài sonar hiện đại nhất là tổ hợp sonar "DUBV-23" (phiên bản Trung Quốc là "SJD-8/9").

Đây là tổ hợp sonar trung tần do Pháp sản xuất được lắp trên tàu khu trục “Chu Hải” năm 1991. Tổ hợp sonar chống ngầm có khả năng phát hiện, xác định và theo dõi tàu ngầm ở chế độ chủ động – thụ động, khoảng cách phát hiện mục tiêu đến 20 km.

Tàu khu trục “Chu Hải”.
Tàu khu trục “Chu Hải”.

Tổ hợp sonar "DUBV-23" được lắp cho các khu trục hạm khu trục hạm lớp Lữ Đại, lớp Lự Hộ - 052, Lữ Hải- 051, Lữ Châu 051C, các tàu Quảng Châu, Lan Châu, Thẩm Dương thuộc lớp tàu 052C Lương II, hai chiếc khinh hạm dự án 054. Số lượng tàu trang bị "DUBV-23" chiếm khoảng 15,6% khu trục hạm.

Tổ hợp "DUBV-43" phao kéo được trang bị cho hai khu trục hạm lớp Lữ Hộ, khu trục hạm Chu Hải, và một khu trục hạm lớp Lữ Đại. 4 khu trục hạm "Sovremennyi" nhập khẩu từ Nga được lắp đặt tổ hợp sonar "Platina MS-E" tầm xa phát hiện tàu ngầm từ 10 – 15 km.

Tổng số các tàu có sonar là 14 khu trục hạm và 2 khinh hạm, chiếm 21% tổng số khu trục hạm của Trung Quốc. 15 khu trục hạm còn lại và 46 khinh hạm được lắp sonar phiên bản cũ từ năm 1950 "EH-5" của Liên Xô chiếm61% và "S-07H" Trung Quốc chiếm 18%.

Khu trục hạm "Sovremennyi"

Không quân chống ngầm hạm đội của Trung Quốc là các máy bay trực thăng. Có 14 khu trục hạm và 17 khinh hạm có sàn đỗ trực thăng, chiếm khoảng 40% tổng số tàu khu trục. Ba loại trực thăng chống ngầm được sử dụng là "Z-9А, -С", "Ка-28" và "Z-8". "Z-9А" là trực thăng của Pháp AS 565 "Panther" lắp đặt thiết bị dò tìm "Thomson" ngư lôi chống ngầm "244S" của Ý.

Tiếp theo Trung Quốc sản xuất "Z-9С" theo lisence trực thăng AS 365N "Dauphin II" của Pháp, mang tên lửa hoặc ngư lôi chống ngầm.

Trực thăng đa nhiệm "Ка-28"là máy bay chống ngầm thuộc biên chế của các khu trục hạm dự án 956E và 956EМ. Đến năm 2006 Hải quân PLA có 11 chiếc Ka-28. Tổng số trực thăng chống ngầm có 42 chiếc bao gồm 19 chiếc "Z-9А, -С" và 4 chiếc "Ка-28" trên tàu khu trục, 19 chiếc "Z-9А,-С" trên khinh hạm.

Trực thăng chống ngầm Z-9C Trung Quốc

Lực lượng không quân tuần biển – chống ngầm Hải quân PLA có 4 chiếc thủy phi cơ "SH-5", 8 chiếc máy bay tuần biển "Y-8X" và 23 máy bay trực thăng "Z-8" và "SA 321Ja "Super Frelon" của Pháp. Máy bay tuần biển "Y-8X" là phiên bản An – 12 bán kính hoạt động 5620 km, trang bị hệ thống trinh sát hồng ngoại và vũ khí chống ngầm (bom chìm, ngư lôi).

Trực thăng Z-8 có tầm bay khoảng 830 km, thời gian hoạt động liên tục là 2,5 h. Theo nhiều nguồn tin, Hải quân PLA đang muốn mua thêm 15 máy bay chống ngầm lưỡng cư "Бе-200" nhằm tăng cường khả năng chống ngầm trên biển lớn.


Trực thăng chống ngầm Z-9C Trung Quốc

Lực lượng chống ngầm mạnh nhất của Trung Quốc là các tàu ngầm được trang bị các đài sonar và ngư lôi chống ngầm.

Hiện nay, các đài sonar trang bị cho tàu ngầm là đài sonar "Eledon" của Pháp, nhập khẩu năm 1976. Đài có anten "TSM 2233" bao gồm anten thụ động xác định khoảng cách "DUUX-5" "Fenelone" và anten chủ động "Velox M5/M7". Khoảng cách phát hiện tàu ngầm từ 20 – 30 km phía trước.

Sonar "Eledon" lắp trên các tàu ngầm nguyên tử lớp Xia, Hán và tàu ngầm diesel lớp Minh, riêng tàu ngầm lớp Minh còn lắp thêm các anten bên sườn "DUUX-2" tầm hoạt động là 1200 m.

Trên các tàu ngầm diesel dự án 877 và 636 lớp Kilo được trang bị sonar "CIM-400E - EM", khả năng phát hiện mục tiêu tàu ngầm trên khoảng cách 16 km, xác định và dẫn bắn 2 mục tiêu, theo dõi 12 mục tiêu.

Vũ khí chống ngầm hiện đại chủ yếu của Hải quân Trung Quốc là ngư lôi chống ngầm các loại, bao gồm có ngư lôi Yu – 4A cỡ đạn 533m , Tect – 71, Yu – 7, A-244 cỡ đạn 324 dành cho không quân chống ngầm. Các ngư lôi đều có thể hoạt động ở độ sâu từ 5 – 400m. Trung Quốc còn sở hữu tên lửa chống ngầm 91RE1 thuộc tổ hợp Club- N.

Ngư lôi chống ngầm A 244 của Ý

Trên các khu trục hạm và khinh hạm lắp các tổ hợp phóng bom chìm phản lực 12 ống phóng "FQF-2500" 213-mm, cơ số đạn 120. Các khu trục hạm nhập khẩu từ Nga lắp đặt tổ hợp 6 ống phóng 305-mm "РBU-1000", cơ số đạn 48.

Tàu khu trục “Chu Hải”.
Ngư lôi chống ngầm A 244 của Ý.

ực lượng chống ngầm hải quân PLA thực tế chỉ đáp ứng yêu cầu bảo vệ các cụm chiến hạm và các vùng nước, các căn cứ hải quân ven biển và hải đảo. Với vũ khí trang bị chống ngầm hiện có, Hải quân Trung Quốc chưa đủ tiềm lực để thống trị các vùng nước lớn như Biển Đông và biển Hoa Đông.

Trịnh Thái Bằng (Nguồn: Flot.com)

Báo Đất Việt