Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức quốc phòng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin tức quốc phòng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Ấn Độ có thể bán tên lửa, tặng máy bay cho Việt Nam


(Soha.vn) - Ấn Độ sẽ sản xuất 10 máy bay tuần tra Dornier DO-228 để tặng cho các quốc gia thân thiện, trong đó có Việt Nam.

Mối quan hệ hợp tác quốc phòng song phương giữa Việt Nam và Ấn Độ trong những năm gần đây đang ngày càng được thắt chặt bởi sự trỗi dậy của Quân đội Trung Quốc đã và đang gây ra cho cả 2 quốc gia những e ngại thực sự trong việc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của đất nước.

Nhằm tăng cường quan hệ hợp tác quốc phòng Việt-Ấn, mới đây nhất, Ấn Độ đã thông qua khoản vay tín dụng 100 triệu USD để giúp Việt Nam mua vũ khí, hiện đại hóa quân đội, đồng thời mở ra cơ hội để Việt Nam có thể trang bị một số loại vũ khí do Ấn Độ sản xuất.

Dưới đây là một số loại vũ khí Ấn Độ có thể cung cấp cho Việt Nam:

1. Tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos

Từ lâu, các nguồn tin giấu tên trong Bộ Quốc phòng Ấn Độ đã tiết lộ, Việt Nam là một trong 14 quốc gia thân thiện được nước này liệt kê vào trong danh sách có thể xem xét bán loại tên lửa hành trình siêu thanh tiên tiến BrahMos do liên doanh hàng không Nga - Ấn Độ cùng hợp tác phát triển.

Trước đây, một số chuyên gia quân sự và giới truyền thông nước ngoài cho rằng, BrahMos là một sản phẩm ra đời trong khuôn khổ dự án mà New Delhi hợp tác phát triển cùng Moscow nên Ấn Độ sẽ không dễ gì có thể tự quyết quyền cung cấp tên lửa BrahMos cho một nước thứ ba nếu như phía Nga chưa đồng ý.
Mặc dù vậy, một số nguồn tin thân cận trong ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ hôm 3/12 đã tiết lộ với tờ Russia & India Reprot (RIR) rằng, Việt Nam đã tiến hành các cuộc đàm phán không chính thức về việc mua tên lửa BrahMos.


Tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos trong một cuộc thử nghiệm

Nguồn tin này giải thích rằng, Việt Nam muốn có tên lửa BrahMos của Ấn Độ để có thể kịp thời đáp ứng những yêu cầu cấp thiết hiện nay, cũng như lấp chỗ trống trong thời gian chờ đợi phát triển biến thể tên lửa hành trình diệt hạm Kh-35 Uran EV cùng với đối tác Nga. Hiện chưa rõ phía Ấn Độ có thể cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam trong tương lai gần hay không, nhưng rõ ràng, nếu như Việt Nam thực sự cần tên lửa BrahMos và phía Nga cũng đồng thuận, sẽ không có lý do gì để New Delhi từ chối lời đề nghị của Việt Nam.

BrahMos là loại tên lửa hành trình được phát triển dựa trên tên lửa chống hạm Yakhont của Nga, có tầm bắn 290km, mang được đầu đạn thông thường nặng 300kg và tốc độ bay siêu thanh Mach 2,8- Mach 3. Trong quá trình bay, BrahMos có thể hạ thấp xuống độ cao khoảng 10m để tránh bị đánh chặn hoặc bị radar đối phương phát hiện.

Ấn Độ đã thử nghiệm thành công phiên bản tên lửa BrahMos trang bị trên tàu chiến mặt nước và trên đất liền, cũng như bắt đầu trang bị số lượng lớn các phiên bản tên lửa này cho quân đội.

2. Máy bay tuần tra Dornier DO-228

Hồi đầu năm nay, giới truyền thông Ấn Độ dẫn lời ông Kanpur D Balsubramaniyam - Giám đốc quản lý của công ty hàng không HAL cho biết Ấn Độ sẽ sản xuất 10 máy bay tuần tra Dornier DO-228 để tặng cho các quốc gia thân thiện, bao gồm Nam Phi, Afghanistan, Philippines, Thái Lan, Ecuador và Việt Nam.

Mặc dù số lượng máy bay DO-228 sẽ được Ấn Độ tặng cho Việt Nam không được tiết lộ, nhưng hành động trên của New Delhi đã cho thấy họ rất coi trọng Việt Nam và muốn gây dựng một mối quan hệ đối tác gắn bó, hữu nghị trên nhiều lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh vào quốc phòng.


Máy bay tuần tra Dornier DO-228

Dornier DO-228 là một loại máy bay được thiết kế để có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, bao gồm vận tải hàng hóa, hành khách, hoạt động trong các hãng hàng không, các công ty tư nhân, huấn luyện phi hành đoàn và phục vụ giám sát, tìm kiếm và cứu hộ cũng như quan sát và truyền thông.

DO-228 tiêu thụ ít nhiên liệu và mức độ bảo dưỡng bảo trì thấp, máy bay có thể bay được cự ly 2.500 km trong thời gian 5,5 giờ và chỉ cần đường băng chạy đà cất cánh 750 m. Dornier 228 sử dụng 2 động cơ cánh quạt Garrett TPE Engines với mức tiêu thụ nhiên liệu 2.859 lít khi bay ở tốc độ cực đại 428 km/giờ.

Về thực chất, DO-228 chính là một sản phẩm được công ty hàng không HAL của Ấn Độ đã mua giấy phép sản xuất từ nhà sản xuất máy bay Dornier GmbH của Đức. Máy bay được vận hành bởi một phi hành đoàn gồm 2 phi công và có thể chở được 15–19 hành khách.

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Ai đang chuẩn bị chiến tranh?

(PetroTimes) - Những tuyên bố mới đây của một số chính trị gia cùng lãnh đạo quân sự của Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ… đang khiến cho căng thẳng tại biển Hoa Đông và Biển Đông càng thêm phức tạp, thậm chí bao phủ một bầu không khí chiến tranh. Nếu những cuộc khẩu chiến hiện nay không được kiểm soát sẽ dẫn tới các hành động khó lường.

Khẩu chiến sẽ biến thành khai hỏa

Ngày 30/10, tờ Thời báo Hoàn Cầu cho rằng, Trung Quốc “chẳng còn gì để nói, cần chuẩn bị cho khả năng nổ ra xung đột” khi đề cập tới căng thẳng với Nhật Bản xung quanh tranh chấp tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông. Đây được coi là phản ứng của Bắc Kinh trước tuyên bố hôm 29/10 của Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản khi ông Itsunori Onodera coi hành động xâm nhập vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư của Trung Quốc đã đẩy khu vực vào trạng thái chông chênh giữa hòa bình với chiến tranh và điều này đã đẩy căng thẳng Trung - Nhật leo thang lên một nấc mới.

Thời báo Hoàn Cầu cũng coi Mỹ là “kẻ đứng sau giật dây” Nhật Bản khiêu khích Trung Quốc” bởi Washington không muốn đánh mất vai trò cân bằng ở Đông Á; đồng thời nhấn mạnh, chỉ cần Mỹ không công khai ủng hộ Nhật Bản giao chiến với Trung Quốc thì Bắc Kinh cần bỏ qua thái độ của Washington để tập trung vào việc “chế áp khiêu khích của Tokyo”. Theo giới phân tích, sau một thời gian “sóng yên biển lặng”, cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Nhật Bản xung quanh tranh chấp lãnh thổ ở biển Hoa Đông lại được dịp tái “dậy sóng” khiến dư luận quan ngại về viễn cảnh một cuộc xung đột vũ trang có thể được châm ngòi bất kỳ lúc nào.

Trung Quốc khoa trương về hạm đội tàu ngầm
Trung Quốc khoa trương về hạm đội tàu ngầm

Trong cuộc trả lời phỏng vấn hôm 26/10, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tuyên bố: Tokyo nên giữ vai trò hàng đầu trong cuộc chiến chống lại “nỗ lực của Trung Quốc” trong việc dùng vũ lực để đạt được mục đích ngoại giao. Đáp lại tuyên bố này, ngày 26/10, Bộ Quốc phòng Trung Quốc cảnh báo Tokyo đừng xem nhẹ quyết tâm của Bắc Kinh trong việc áp dụng bất kỳ biện pháp cần thiết nào để bảo vệ bản thân.

Ngày 27/10, Thủ tướng Shinzo Abe lại tuyên bố: “Sẽ không dung thứ cho bất kỳ hành động sử dụng vũ lực nào nhằm tìm cách thay đổi thế nguyên trạng trong khu vực”. Đây rõ ràng là cảnh báo trực tiếp nhằm vào Trung Quốc bởi Tokyo thường xuyên cáo buộc Bắc Kinh tìm cách thay đổi nguyên trạng ở quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại, Trường đại học Thanh Hoa Lưu Giang Vĩnh cho rằng, phát biểu hôm 27/10 của ông Shinzo Abe đánh dấu việc Thủ tướng Nhật Bản bắt đầu khẳng định mạnh mẽ về mối đe dọa đến từ Trung Quốc trước cộng đồng quốc tế, đồng thời kêu gọi các nước thúc đẩy Nhật Bản trở thành lực lượng cốt lõi “kiềm chế Trung Quốc”.

Ngày 28/10, người ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh tuyên bố: những bình luận khiêu khích của các lãnh đạo Nhật Bản liên quan đến Trung Quốc cho thấy phương pháp lừa dối của những chính trị gia này và sự ngạo mạn, lương tâm tội lỗi của họ. Bà Hoa Xuân Doanh cũng chỉ trích những phát biểu gần đây của Thủ tướng Shinzo Abe liên quan đến việc Trung Quốc âm mưu dùng vũ lực thay đổi hiện trạng tại biển Hoa Đông và Biển Đông.

Cũng trong ngày 28/10, tờ Thời báo Hoàn Cầu còn cho rằng, chỉ cần một máy bay của Trung Quốc bị bắn rơi, các mối thù hận “trong sâu thẳm” giữa hai nước sẽ bùng phát, cục diện Đông Bắc Á sẽ sụp đổ theo hiệu ứng dây chuyền, xung đột Trung - Nhật rất có thể diễn biến thành một cuộc chiến tranh cục bộ. Còn theo ông Lưu Kiến Dũng, chuyên gia về Nhật Bản thuộc Trường đại học Thanh Hoa, Trung Quốc: Nhật Bản đang triển khai một cuộc chiến tâm lý và dư luận. Trong khi đó, Giáo sư Ngưu Trọng Quân thuộc Học viện Ngoại giao Trung Quốc cho rằng, tuy cả Trung Quốc và Nhật Bản đều không muốn có xung đột, nhưng rất khó để tránh những vụ khai hỏa nhầm!

Những động thái đáng ngại

Ngày 29/10, 2/5 tàu khu trục của Hải quân Trung Quốc đã đi vào vùng biển gần đảo Okinawa (giữa đảo Yonaguni và Iriomote) của Nhật Bản sau khi tham gia tập trận ở Thái Bình Dương. Trước đó (28/10), Trung Quốc lại “gây hấn” với Nhật Bản bằng việc điều các tàu tuần duyên đến khu vực quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Việc này diễn ra sau khi Thủ tướng Shinzo Abe tuyên bố, sẽ dùng vũ lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Bắc Kinh.

Cũng trong ngày 29/10, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Itsunori Onodera đã cáo buộc những hành động của Trung Quốc trong cuộc tranh chấp ở biển Hoa Đông đang đe dọa đến hòa bình. Ông Itsunori Onodera coi việc trong tới 3 ngày liên tiếp, 4 máy bay quân sự Trung Quốc (2 máy bay ném bom và 2 máy bay cảnh báo sớm) liên tục bay qua lại eo biển Miyako nằm giữa đảo Okinawa và Miyako buộc Tokyo phải điều chiến đấu cơ cất cánh là động thái rất không bình thường. Do đó, Nhật Bản sẽ có những phản kháng thích đáng nhằm tránh những ảnh hưởng an ninh từ việc máy bay của Trung Quốc xâm nhập vùng trời quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản cũng cảnh báo, Bắc Kinh không nên chọc giận Tokyo.


Tàu sân bay trực thăng Izumo Nhật Bản

Theo kênh truyền hình quốc gia Nhật Bản Nippon Hoso Kyokai, các máy bay của không quân Trung Quốc bị phát hiện ở gần không phận Okinawa trong 3 ngày liên tiếp và theo Bộ Quốc phòng Nhật Bản, đây là lần đầu tiên Trung Quốc cho 4 phi cơ bay thành đội hình trên khu vực phòng không của nước này. Trước đó, Tokyo từng cảnh báo, sẽ bắn hạ các máy bay tuần tra xâm nhập không phận Nhật Bản. Theo nhận định của bà Chikako Ueki, chuyên gia quan hệ quốc tế thuộc Đại học Waseda, Thủ tướng Shinzo Abe không chỉ dọa suông bởi các quy định áp dụng cho máy bay có người lái khi xâm phạm không phận của một quốc gia cũng có thể được áp dụng trong trường hợp máy bay không người lái.

Ngày 28/10, Bộ Quốc phòng Nhật Bản tuyên bố, để đối phó với những hoạt động hải dương của Trung Quốc, Tokyo đang cân nhắc nhập máy bay trinh sát không người lái MQ-8 Fire Scout (hơn 160 chiếc), để kéo dài thời gian bay trinh sát, nâng cao khả năng giám sát tàu chiến và máy bay Trung Quốc ở khu vực quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Trước đó, Tokyo đã sử dụng máy bay trinh sát chiến lược RQ-4 Global Hawk để giám sát Senkaku/Điếu Ngư. Được biết, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cũng vừa công bố bản báo cáo sơ bộ dự toán ngân sách phòng vệ năm 2014, trong đó đặc biệt là kế hoạch mua sắm và triển khai vũ khí, trang bị hiện đại (của 3 lực lượng hải, lục và không quân) để đối phó với Trung Quốc. Bên cạnh đó, Tokyo còn đẩy mạnh các hoạt động diễn tập quân sự liên hợp Thái Bình Dương với lực lượng không, hải quân và lính thủy đánh bộ Mỹ ở Hawaii.

Cũng trong ngày 28/10, Đài Truyền hình NHK Nhật Bản đưa tin, 3 hạm đội của hải quân Trung Quốc (Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải) đang triển khai diễn tập đối kháng chiến đấu thực tế biển xa mang tên “Cơ động-5” ở vùng biển phía nam Okinawa, Nhật Bản (từ 18/10 đến đầu tháng 11). Đây được coi là động thái nhằm kiềm chế Nhật Bản bởi Tokyo và Bắc Kinh đang đối đầu xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Hoạt động của 3 hạm đội kể trên đã bị tàu chiến và máy bay do thám của nước ngoài theo dõi chặt chẽ. Hành trình bay của máy bay ném bom Trung Quốc luôn bị máy bay nước ngoài bám theo, biên đội tàu chiến Trung Quốc cũng bị tàu chiến nước ngoài bám sát trong cự ly gần. Theo người phát ngôn Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh, hoạt động và huấn luyện của máy bay Trung Quốc, trong đó có máy bay không người lái ở vùng biển có liên quan ở biển Hoa Đông phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Theo mạng Tạp chí Forbes của Mỹ, Thủ tướng Shinzo Abe đang mạnh dạn dẫn dắt Nhật Bản bước lên con đường độc lập về ngoại giao và quốc phòng. Trong khi đó tờ Học giả ngoại giao của Nhật Bản, những năm gần đây, Trung Quốc ngày càng kiêu căng, gây thù chuốc oán với các nước xung quanh và Bắc Kinh luôn áp dụng chính sách “chia để trị” đối với các nước láng giềng, nhưng hiện kiên quyết gạt Philippines và Nhật Bản ra khỏi “cuộc chơi”. Bởi Bắc Kinh cho rằng, Tokyo và Manila đều là đồng minh của Mỹ và không có biên giới đất liền với Trung Quốc.

Các nước hữu quan nâng cao cảnh giác

Ngày 29/10, Tân Hoa xã dẫn bài của trang mạng tuần san “Tin tức Quốc phòng” cho rằng, 5 năm tới, Ấn Độ có kế hoạch chi hơn 2 tỉ USD, mở rộng biên đội máy bay không người lái (UAV), trong đó có máy bay không người lái cỡ nhỏ (mini), để nâng cao năng lực tình báo, thông tin và giám sát biên giới. Trong tháng 10/2013, Lục quân Ấn Độ đã phát thư mời thầu để mua 49 máy bay không người lái nhằm theo dõi, giám sát và thu thập tin tức tình báo theo thời gian thực đối với các hoạt động, điều động nhân viên hoặc xe cộ, nhận biết mục tiêu và tin tình báo điện tử - thư tín. Và biên giới Ấn - Trung là một trong những địa chỉ ưu tiên của vấn đề này. Tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng từng cho rằng, Ấn Độ đã thể hiện sự kiên nhẫn của mình trong quan hệ với Trung Quốc về một loạt vấn đề, trong đó có tranh chấp biên giới.

Ngày 30/10, tại thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc), Phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Phạm Trường Long đã tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishammuddin Hussein, theo đó 2 nước tiếp tục tăng cường giao lưu quân sự, thúc đẩy quan hệ song phương phát triển toàn diện và sẽ tập trận chung với sự tham gia của hải, lục, không quân trong năm 2014. Tờ The Straits Times từng dẫn lời ông Hishammuddin Hussein về việc xây dựng một căn cứ hải quân và thành lập lực lượng thủy quân lục chiến ở Bintulu. Và những động thái mới của Malaysia trên Biển Đông thời gian gần đây là tín hiệu cho thấy quyết tâm của Kuala Lumpur trong việc bảo vệ các lợi ích hàng hải của mình. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia, mục đích thành lập căn cứ hải quân tại đây là nhằm bảo vệ trữ lượng dầu mỏ và các vùng biển lân cận. Căn cứ hải quân thành lập mới ở Bintulu rất gần bãi cạn James ở cực Nam quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam), nơi Trung Quốc từng tập trận bất hợp pháp trong năm nay.

Ngày 28/10, Mỹ đã hạ thủy khu trục hạm tàng hình mới nhất USS Zumwalt (có giá lên đến 3,5 tỉ USD) để phục vụ trong các chiến dịch bí mật. Đây được coi là động thái nhằm khẳng định vị thế độc tôn trên biển của Mỹ. Nhưng trước đó (25/10), trang web của Đài Phát thanh “Tiếng nói nước Nga” đã viện dẫn quan điểm của ông Zbigniew Brzezinski, chuyên gia địa - chính trị nổi tiếng của Mỹ lại cho rằng, Washington đang đứng trước nguy cơ mất địa vị bá chủ thế giới. Thông tin này xuất hiện cùng thời điểm giới truyền thông Mỹ bày tỏ sự lo lắng trước tình hình Đại Lục và Đài Loan ngày càng xích lại gần nhau, đồng thời cảnh báo về nguy cơ nếu Mỹ bị Trung Quốc hất cẳng khỏi Đài Loan thì vị thế của Washington càng bị thu hẹp.

Về phần mình, Chuẩn Đô đốc Mark Montgomery, Tư lệnh cụm tàu sân bay tấn công USS George Washington có căn cứ tại Yokosuka, Nhật Bản cho biết, việc mở rộng sự hiện diện quân sự của Mỹ có tác dụng làm dịu những căng thẳng âm ỷ và các tranh chấp lãnh thổ trong khu vực, đồng thời nhấn mạnh, sẽ có mặt ở Biển Đông nếu xảy ra xung đột. Ngày 28/10, tờ Philstar của Philippines đưa tin, Tập đoàn sản xuất máy bay AgustaWestland của Anh và Italia đã giành được gói thầu cung cấp 8 chiếc trực thăng tấn công AW-109 Power, trị giá 3,44 tỉ peso (khoảng 60,256 triệu USD) cho không quân Philippines. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Philippines Fernando Manalo đã xác nhận thông tin này và cho rằng, số trực thăng này có thể được bàn giao vào năm tới nếu ngân sách sớm được phân bổ. Đây được coi là động thái tiếp theo kế hoạch nâng cấp quốc phòng của Philippines để đối phó với âm mưu độc bá Biển Đông của Trung Quốc.

Ngày 28/10, Tạp chí The Diplomat (Nhật Bản) đăng bài “Ba lý do ngoại giao về Senkaku/Điếu Ngư nên bí mật” của chuyên gia khoa học chính trị Mira Rapp-Hooper ở Đại học Columbia (Mỹ). Theo chuyên gia Mira Rapp-Hooper, Bắc Kinh và Tokyo chắc chắn muốn thương thảo về việc tổ chức một cuộc gặp cấp cao để giải quyết căng thẳng ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, nhưng hai bên hiện vẫn chưa tìm được tiếng nói chung. Tuy nhiên, có ít nhất 3 lý do để hy vọng việc này sẽ tiếp tục. Thứ nhất, vấn đề tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư liên quan đến yếu tố tình cảm dân tộc rất lớn. Thứ hai, các thông tin gần đây cho thấy hai nước không phải lần đầu tiến hành ngoại giao bí mật về vấn đề Senkaku/Điếu Ngư. Thứ ba, ngoại giao bí mật có thể là một công cụ quan trọng vì các nước Đông Á và Mỹ rất quan tâm đến bản chất của thỏa thuận về Senkaku/Điếu Ngư.


http://petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/ai-dang-chuan-bi-chien-tranh.html

Ấn Độ có thể bán tên lửa đối đất Pragati cho Việt Nam

Trích dẫn các nguồn tin thân cận trong ngành công nghiệp quốc phòng Ấn Độ, hãng tin INN của nước này tiết lộ rằng, cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Quốc phòng (DRDO) của Ấn Độ có thể cung cấp hệ thống tên lửa chiến thuật Pragati (một biến thể xuất khẩu của tên lửa Prahaar) cho Việt Nam.

Tên lửa chiến thuật Pragati
Tên lửa chiến thuật Pragati

"Tên lửa chiến thuật Pragati có tầm bắn từ 60 - 170km và có thể được cung cấp cho Việt Nam" - theo các nguồn tin thân cận của DRDO. Ngoài ra, Hàn Quốc cũng có thể là một đối tác tiềm năng khác quan tâm đến tên lửa của Ấn Độ. Tuy nhiên, INN đã loại trừ khả năng này, bởi Seoul đang sử dụng hệ thống tên lửa chiến thuật MGM-140 (viết tắt là ATacMS) của Mỹ.

Được biết, Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Quốc phòng Ấn Độ (DRDO) đã ra mắt tên lửa chiến thuật mới Pragati tại cuộc Triển lãm công nghệ quốc phòng và hàng không vũ trụ quốc tế Seoul International Aerospace and Defence (Seoul ADEX 2013) ở Hàn Quốc. Trong đó, DRDO tuyên bố rằng, họ đã được chính phủ phê duyệt cho phép xuất khẩu loại tên lửa chiến thuật này cho những bạn bè thân thiết, nếu như họ quan tâm tới Pragati.

Loại tên lửa mới này có thân dài 7,4 m và đường kính 0,42 m, mang đầu đạn thường nặng 200kg. Pragati sử dụng nhiên liệu rắn và hệ thống ống phóng tự động (MLS). Cùng một lúc Pragati có thể phóng từ 2-6 quả tên lửa tùy theo thiết kế. Tốc độ phóng các tên lửa chỉ cách nhau 5 giây.

Tên lửa Pragati sử dụng kết hợp lực đẩy véc-tơ và kiểm soát khí động học để ổn định trong quá trình phóng lên và quỹ đạo bay để đạt được bán kính lệch mục tiêu nhỏ hơn 20 mét. Pragati được dẫn đường bằng sự kết hợp giữa hệ thống định vị quán tính Gyro Laser Ring (RLG) và hệ thống định vị toàn cầu GPS.

Hệ thống Pragati được triển khai nhanh chóng với khả năng bắn hàng loạt rocket nhờ vào hệ thống điều khiển gồm một lệnh tác chiến và 4 nút điều khiển qua cáp quang và liên kết không dây LOS. Hệ thống tên lửa được gắn với loại xe có khả năng di động cao HMV với 6, 4 hoặc 3 trục, tùy thuộc vào trọng lượng và số lượng ống phóng sử dụng tương ứng.

Ngoài ra hệ thống ống phóng còn được kết cấu hệ thống khớp trục và điện cơ tự động cho phép nó ổn định triển khai hoạt động nhanh chóng. Nó có khả năng triển khai trong chế độ độc lập hoặc chế độ tập trung.

Ấn Độ có kế hoạch xuất khẩu Pragati - chính phủ đã cho phép cung cấp tên lửa này đến các quốc gia thân thiện. Theo tuyên bố của phó giám đốc DRDO, công ty Ấn Độ Tata đã phối hợp phát triển Pragati cho quân đội nước này. Pragati có thể được coi là phiên bản xuất khẩu của tên lửa Prahaar, báo Times of India cho hay.

http://www.baodatviet.vn/quoc-phong/vu-khi/inn-an-do-co-the-ban-ten-lua-pragati-cho-viet-nam-2358960/

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Làm thế nào để đánh thắng Trung Quốc

VietnamDefence - Thách thức đang nổi lên do hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến nước Mỹ phải xem xét lại các chiến lược quân sự hiện tại và nghiên cứu xây dựng những chiến lược mới.

Hạm đội tàu chiến Mỹ ở Thái Bình Dương

Thách thức đang nổi lên do hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến nước Mỹ phải xem xét lại các chiến lược quân sự hiện tại và xây dựng những chiến lược mới, điều được minh họa bằng các cuộc tranh luận đang diễn ra về khái niệm “Tác chiến không-biển” (AirSea Battle - ASB), một khái niệm tác chiến mới được Bộ Quốc phòng đưa ra. Nhưng trong vô số những chiến lược có thể, ý tưởng về một chiến lược phong tỏa đường biển cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.

Bằng cách thực hiện phong tỏa đường biển, Mỹ sẽ khai thác sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào ngoại thương, đặc biệt là dầu mỏ, để làm suy yếu nhà nước Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa có tổ chức cẩn thận vì thế có thể trở thành một công cụ ghê gớm của sức mạnh quân sự Mỹ góp phần khắc phục thách thức đầy áp lực từ hệ thống vũ khí chống tiếp cận/phong tỏa khu vực(A2/AD) đáng gờm của Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa cũng có thể dễ dàng kết hợp với các chiến lược quân sự thay thế, kể cả những chiến lược dựa trên khái niệm ASB.

Trong bối cảnh một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ, nước Mỹ có thể cố gắng biến sức mạnh quốc gia lớn nhất của Trung Quốc - mô hình kinh tế định hướng xuất khẩu, tăng trưởng bùng nổ của họ - thành một nhược điểm quân sự lớn. Để làm như vậy, Mỹ sẽ thực hiện một cuộc phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc nhằm bóp nghẹt phần lớn hoạt động thương mại hàng hải của Trung Quốc. Trong những các điều kiện thuận lợi, Mỹ sẽ có thể giành chiến thắng bằng cách làm suy yếu nền kinh tế Trung Quốc đủ nghiêm trọng để buộc họ ngồi vào bàn đàm phán.

Tuy nhiên, cho đến gần đây, một chiến lược phong tỏa phần nhiều bị bỏ qua, có lẽ vì các chiến lược chiến tranh kinh tế dường như vốn đã là sai lầm trong điều kiện tồn tại các mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhưng nếu một cuộc xung đột nghiêm trọng nổ ra giữa hai nước, thì các lợi ích an ninh trực tiếp của hai nước sẽ nhanh chóng vượt lên trên sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại của họ và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn cho cả hai bên, bất kể một cuộc phong tỏa có được áp đặt hay không.

Ngay cả khi một cuộc phong tỏa không bao giờ thực hiện, thì khả năng thực hiện nó vẫn sẽ tác động đến chính sách của Mỹ và Trung Quốc vì lý do răn đe. Chiến lược khu vực của Mỹ được xác định trên niềm tin rằng, một cán cân quân sự có lợi sẽ răn đe và ngăn cản những âm mưu tiềm tàng của Trung Quốc tìm cách thay đổi hiện trạng bằng vũ lực, do đó có tác dụng trấn an các đồng minh và duy trì sự ổn định chiến lược.

Khả năng thi hành một cuộc phong tỏa ảnh hưởng đến tính toán này còn có thể có ảnh hưởng tương ứng đến các hành động của Mỹ và Trung Quốc, cả về quân sự và phi quân sự, vốn được dựa trên sự nhận thức về nó. Nếu một cuộc phong tỏa đường biển là một chiến lược khả thi, nó sẽ tăng cường hệ thống răn đe của Mỹ và làm giảm hiệu lực của bất kỳ nỗ lực tiềm năng nào của Trung Quốc nhằm ép buộc Mỹ hay đồng minh.

Hơn nữa, nếu tính khả thi của một cuộc phong tỏa có thể được nêu lên một cách rõ ràng, nó sẽ còn nâng cao sự ổn định khủng hoảng và làm giảm triển vọng leo thang do sự hiểu lầm ở cả hai bên về cán cân sức mạnh trong khu vực. Tóm lại, đúng như Elbridge Colby đã nói: “Một câu thành ngữ vẫn còn đúng là cách tốt nhất để tránh chiến tranh vẫn là hãy chuẩn bị cho nó”.

Trong khi một cuộc phong tỏa không phải là một điều không thể hoặc không thích hợp trong mọi tình huống, thì nó cũng không phải là một công cụ sẵn sàng trong kho vũ khí của Mỹ và sẽ chỉ khả thi chủ yếu trong những phạm vi nhất định. Quan trọng nhất, nhiều nhà bình luận bỏ qua một thực tế là một cuộc phong tỏa chính là một chiến lược phụ thuộc vào bối cảnh, điều phụ thuộc chủ yếu vào môi trường khu vực.

Bối cảnh chiến lược

Việc phong tỏa sẽ không được Mỹ khinh xuất sử dụng do chi phí tiềm năng lớn của nó. Do đó, Washington có thể sẽ chỉ xem xét thực hiện phong tỏa trong một cuộc xung đột kéo dài liên quan đến những lợi ích sống còn; bất cứ lý do gì nhỏ hơn sẽ không hợp lý khi phân tích chi phí-lợi ích cơ bản.

Nhưng quan trọng hơn là một chiến lược phong tỏa sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác của nhiều bên thứ ba trong khu vực. Nói cho cùng, hoạt động thương mại của Trung Quốc được thực hiện trên các vùng biển chủ yếu là kết quả của những tính toán kinh tế, chứ không phải là do những hạn chế vật lý; nếu Trung Quốc bị phong tỏa, họ sẽ chuyển sang các nước giáp giới để xin giúp đỡ.

Trong khi nhiều nước láng giềng của Trung Quốc sẽ không thể tạo ra sự khác biệt chiến lược vì địa lý hiểm trở hoặc lãnh thổ của họ quá nhỏ, ba nước có thể có vai trò thiết yếu là Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga. Nhật và Nga sẽ rất quan trọng trong việc giúp Mỹ cắt đứt các tuyến đường thương mại của Trung Quốc tương ứng ở phía nam và phía đông thông qua việc cấm vận quốc gia đối với Trung Quốc và gây sức ép với các nước láng giềng nhỏ hơn của họ cùng làm như vậy. Nếu không có sự hợp tác của họ, nhiệm vụ của Hoa Kỳ sẽ trở nên khó khăn hơn.

Nước cuối cùng trong ba nước láng giềng đó của Trung Quốc là Nga sẽ là có vai trò then chốt để phong tỏa thành công, và có thể làm nghiêng cán cân của phong tỏa nghiêng về phía lợi cho Trung Quốc hay Mỹ. Một mặt, Nga có vị trí khá thuận lợi để giảm bớt ảnh hưởng của cuộc phong tỏa đối với Trung Quốc. Hoạt động thương mại của Nga sẽ được miễn dịch trước sự ngăn chặn của Mỹ do kho vũ khí hạt nhân và các lực lượng, vũ khí thông thường của Nga có thể ngăn cản bất kỳ mưu toan ép buộc quân sự nghiêm túc nào của Mỹ.

Nhưng mặt khác, nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc cũng có thể rung hồi chuông báo tử cho khả năng chống phong tỏa của Trung Quốc. Ở cấp độ chính trị, Moscow vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng đối với các quyết định ở thủ đô các nước láng giềng Trung Á của Trung Quốc và có thể thuyết phục họ từ chối lời cầu xin của Trung Quốc để các nước này đóng vai trò như các quốc gia quá cảnh. Nga cũng có thể đảm bảo rằng, hai nhà sản xuất dầu láng giềng của Trung Quốc sẽ không còn cung cấp dầu cho Trung Quốc nữa.

Vì thế, để thực hiện được một cuộc phong tỏa có hiệu quả chiến lược đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ cố gắng xây dựng một “liên minh tối thiểu” với Ấn Độ, Nhật Bản và Nga. Nếu cả ba quốc gia cùng chung sức tham thực hiện cuộc phong tỏa của Mỹ, thì Trung Quốc sẽ bị đẩy vào vòng kiềm tỏa bóp nghẹt cả về kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, nếu không được thế, thì chiến lược phong tỏa sẽ “khu vực hóa” một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ theo một cách cơ bản là bất lợi cho lợi ích của Mỹ.

Một liên minh tối thiểu như vậy chỉ có thể ra đời theo một cách duy nhất: nhằm vào những sơ hở của hành động quyết đoán của Trung Quốc nhằm giành quyền bá chủ khu vực vốn có tác động thúc đẩy một sự ủng hộ của khu vực đối với sự phản ứng mạnh mẽ của Mỹ. Nếu không có yếu tố một Trung Quốc hung hăng, thì hành động cấm vận tập thể sẽ bị cản trở bởi những hậu quả tiềm năng của cuộc phong tỏa, trong đó hậu quả không nhỏ là nguy cơ xảy ra xung đột khu vực lớn hơn với Trung Quốc. Bốn nước (Mỹ, Ấn Độ, Nhật Nga) khó có khả năng tập hợp với nhau quanh một chính sách kiềm chế tiềm ẩn cho đến khi mỗi nước đều cảm thấy, lợi ích quốc gia của mình có thể bị Trung Quốc đe dọa trong tương lai.

Trong khi một khả năng như vậy hiện tại có thể cảm thấy xa vời, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga đều lo ngại, Bắc Kinh có thể một ngày nào đó kết luận là họ phải sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình và để giải quyết nan đề an ninh của họ trong những điều kiện thuận lợi. Cả bốn cường quốc ngày càng tìm cách bảo hiểm tiền đặt cược của họ để chống lại khả năng này. Nếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á tiếp tục tăng, thì sự liên kết giữa cả bốn quốc gia này sẽ được tăng cường, không phải vì bất kỳ niềm tin nào về ý định hiếu chiến của Trung Quốc, mà là vì sự bất định hoàn toàn về vị thế tương lai của họ.

Thách thức về mặt thực thi phong tỏa

Kể cả khi giả định rằng, Mỹ có thể tập hợp được một liên minh cần thiết, họ sẽ dứt khoát phải đối mặt với thách thức về thực thi phong tỏa gây rắc rối cho tất cả các chiến lược phong tỏa hiện đại.

Về mặt tác chiến, các cuộc phong tỏa được đặc trưng bởi khoảng cách từ bờ biển của quốc bị phong tỏa và chúng có hai hình thức: gần và xa. Một cuộc phong tỏa gần thường được thực thi bằng cách lập một hàng rào của các tàu chiến ở ngoài khơi bờ biển đối phương để lục soát tất cả các tàu buôn đến hoặc đi và ngăn chặn các tàu chở hàng lậu. Tuy nhiên, trong một thế kỷ rưỡi qua, các cuộc phong tỏa gần ngày càng trở nên nguy hiểm do các nước tham chiến đã phát triển được công nghệ tung sức mạnh từ bờ biển của họ. Để đối phó, các cường quốc tiến hành phong tỏa đã chuyển sang phong tỏa từ xa. Một cuộc phong tỏa từ xa giúp tránh được các nguy cơ về quân sự vì ở gần bờ biển đối phương bằng cách bố trí lực lượng, phương tiện phong tỏa ở xa, nhưng vẫn ngăn chặn được các tuyến đường biển của đối phương và do đó, nó triệt phá được hoạt động thương mại của đối phương giống như phong tỏa gần.

Một cuộc phong tỏa gần hay phong tỏa từ xa đối với Trung Quốc một mình nó không thể thành công do những hạn chế đặt ra bởi những yêu cầu quân sự và bản chất của thương mại hàng hải. Một mặt, một cuộc phong tỏa gần thông thường sẽ cực kỳ khó khăn vì Mỹ muốn giảm thiểu các nguy cơ quân sự cho các tàu chiến Mỹ. Một khi tiến gần hơn lãnh thổ Trung Quốc, các lực lượng Mỹ sẽ ngày càng đặt mình vào tầm uy hiếp của các hệ thống A2/AD của Trung Quốc, có thể làm hạn chế quyền tự do hành động của họ và kết quả là những tổn thất nặng nề. Các lực lượng Mỹ có thể tránh được mối đe dọa từ hệ thống A2/AD của Trung Quốc bằng cách tiến hành cuộc phong tỏa gần bằng các tàu ngầm, lực lượng không quân tầm xa và thủy lôi; nhưng bằng cách đó, cuộc phong tỏa cũng sẽ mất đi phần lớn khả năng của mình phân biệt giữa hoạt động thương mại trung lập và và hoạt động thương mại của kẻ thù.

Mặt khác, logic đằng sau các cuộc phong tỏa từ xa thông thường cũng bị mất hiệu quả như thế bởi các nhu cầu cấp thiết của thương mại hiện đại. Ngày nay, nguyên liệu thô và hàng hóa chở trên tàu biển có thể được bán và bán lại nhiều lần trong một hành trình, vì thế không thể biết quyền sở hữu và điểm đến cuối cùng của hàng hóa trên tàu cho đến tận khi tàu cập cảng. Mặc dù Mỹ có thể thiết lập một cuộc phong tỏa từ xa thông thường ngăn chặn tất cả các tàu thuộc sở hữu Trung Quốc hoặc mang cờ Trung Quốc, Trung Quốc vẫn có thể đơn giản là mua hàng hóa của các tàu chở hàng trung lập sau khi chúng đã đi qua vòng đai phong tỏa, làm thất bại hoàn toàn mục đích của cuộc phong tỏa.

Giải pháp: Phong tỏa hai vành đai

Để khắc phục sự ớt của hai kiểu phong tỏa, Mỹ sẽ tận dụng những gì tốt nhất của cả hai thế giới và thực hiện “hai vành đai” phong tỏa gồm hai vòng tròn đồng tâm bao quanh bờ biển Trung Quốc.

Trung tâm của phong tỏa hai vành đai sẽ là “vành đai bên trong” của nó, vốn sẽ là một sự phong tỏa gần khác thường chủ yếu nhằm vào việc ngăn chặn các tàu biển đi đến Trung Quốc mà không cần phải lên các tàu này trước. Vành đai này sẽ tạo ra một một vùng loại trừ xung quanh bờ biển Trung Quốc, khu vực bị tuyên bố là cấm vận chuyển thương mại và được thực thi bởi một chính sách “bắn chìm nếu trông thấy” thông qua việc sử dụng các tàu ngầm tấn công, không quân tầm xa và thủy lôi. Khác với các phương tiện quân sự khác, ba loại vũ khí này có thể hoạt động tương đối an toàn trong tầm hoạt động của hệ thống các phương tiện A2/AD của Trung Quốc bằng cách lợi dụng khả năng chống ngầm yếu ớt của Trung Quốc và lực lượng chống thủy lôi kém cỏi của họ. Trong khi bộ ba phương tiện quân sự này sẽ không đảm bảo tạo ra được hàng rào hoàn toàn không thể vượt qua đối với tàu bè, khu vực loại trừ vẫn có thể đạt được mục tiêu phong tỏa vì điểm tựa của chiến dịch của Mỹ sẽ được đặt vào khả năng răn đe hơn là vào vũ lực. Ngay sau khi các lực lượng Mỹ đã công khai đánh chìm nhiều tàu buôn lớn, phần lớn các tàu khác sẽ bị răn đe để không cố vi phạm lệnh phong tỏa và dòng chảy liên tục của thương mại hàng hải của Trung Quốc sẽ nhanh chóng cạn kiệt.

Nhưng trong khi tàu ngầm, không quân tầm xa và thủy lôi có thể thực thi hiệu quả một khu vực loại trừ như một phần của vành đai phong tỏa bên trong, tất cả các phương tiện này là các công cụ cùn, không thể nhận biết sự khác biệt giữa một tàu chở hàng hóa Trung Quốc và một con tàu vận chuyển hàng hoá Nhật Bản, chúng cũng không chặn lại, lên tàu khám xét và lùng sục các tàu nghi vấn. Kết quả là vành đai phong tỏa bên trong tự nó sẽ có khả năng gây ra những rắc rối chính trị lớn khi Mỹ vô tình đánh chìm các con tàu trung lập, và Washington có thể phải đối mặt thêm với những hậu quả chính trị do vùng loại trừ không thể để các hàng hóa đáp ứng nhu cầu y tế và các nhu cầu cơ bản đến được Trung Quốc.

Để đối phó với những hậu quả chính trị đó, Mỹ sẽ thiết lập một vành đai phong tỏa thứ hai, “vành đai ngoài” cho phép sử dụng vũ lực một cách có chọn lọc hơn, đồng thời có tác dụng như một thiết bị sàng lọc. Ngược lại với vành đai phong tỏa bên trong, vòng đai ngoài phần lớn sẽ bao gồm các tàu chiến tập trung vào cả việc phân biệt giữa các hoạt động thương mại khu vực khác nhau với độ chính xác cao hơn và lẫn bổ sung một thành tố phi sát thương vào những nỗ lực vô hiệu hóa có tính sát thương của vành đai bên trong. Vành đai ngoài sẽ không phải là một điều kiện tiên quyết cho thành công của hoạt động phong tỏa, mặc dù nó sẽ là một sự hỗ trợ lớn, nhưng nó sẽ là quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thành công chiến lược của nó.

Vành đai ngoài sẽ được thiết lập ở ngoại vi các vùng biển gần Trung Quốc, tức là bên ngoài tầm hoạt động của hệ thống A2/AD của Trung Quốc và sẽ được tập trung quanh các hành lang quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, trong đó có eo biển Malacca. Mỹ sẽ lập các trạm kiểm soát phong tỏa tại các hành lang (như eo Malacca) quan trọng nhất đối với giao thông đường biển quốc tế, trong khi các hành lang nhỏ hơn sẽ bị đóng hoàn toàn đối với giao thông tàu bè quốc tế.

Tại các điểm kiểm tra ở vành đai ngoài, Mỹ sẽ cần thiết lập và sắp xếp một chế độ kiểm tra nghiêm ngặt. Nếu Mỹ phát hiện ra một con tàu có đích đến Trung Quốc, do Trung Quốc sở hữu hoặc đăng ký tại Trung Quốc, thì Mỹ có thể chặn nó lại.

Mỹ cũng có thể áp dụng một hệ thống tương tự như hệ thống giấy quá cảnh Anh trong Thế chiến II, nó sẽ cung cấp cho Mỹ một bản đồ không gian khá chính xác về vị trí và đường đi của tất cả các tàu thương mại trong khu vực. Mỹ sau đó sẽ tích hợp các bản đồ không gian của các giấy quá cảnh với hỏa lực của vành đai bên trong để tạo ra một lực lượng mạnh mẽ chống lại những kẻ vi phạm chế độ phong tỏa, đồng thời cũng làm giảm tỷ lệ các sự cố đánh chìm tàu vô ý, nhất là các tàu chở hàng nhân đạo. Tuy là một quá trình không hoàn hảo, hệ thống giấy phép quá cảnh sẽ vẫn làm tăng đáng kể những rủi ro cho các con tàu né tránh phong tỏa đến mức vi phạm chế độ phong tỏa trở nên quá nguy hiểm khiến chúng không tìm cách vi phạm nữa, trừ những con tàu thích mạo hiểm nhất. Nhưng có lẽ còn quan trọng hơn là nó sẽ giúp giảm bớt những ảnh hưởng chính trị gây ra bởi việc tiêu diệt không phân biệt và gây chết người của vành đai phong tỏa bên trong.

Những hậu của cuộc phong tỏa

Mặc dù những hậu quả của một cuộc phong tỏa sẽ là cực kỳ phức tạp, đa dạng và phụ thuộc lẫn nhau, một cuộc phong tỏa cũng sẽ có thể chứng tỏ là một công cụ làm kiệt sức mạnh mẽ như một phần của chiến dịch tổng thể của Mỹ.

Nhưng trước hết phải công nhận rằng, ngay cả sự phong tỏa hiệu quả nhất cũng sẽ không thể ngăn chặn hoàn toàn các hoạt động thương mại của Trung Quốc, bởi vì ngay cả trong những điều kiện lý tưởng, Trung Quốc vẫn sẽ có khả năng mua được các mặt hàng và tài nguyên thiết yếu nhờ những quy luật không thể né tránh của cung và cầu. Lệnh cấm vận trong khu vực mà Mỹ thiết lập càng hiệu quả, thì tỷ suất lợi nhuận từ việc bán hàng nhập khẩu vào Trung Quốc càng cao. Ngay cả khi tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc đồng tình cấm vận nước này, Mỹ vẫn sẽ phải bó tay với nạn buôn lậu tràn lan ở cấp độ phi nhà nước.

Một cuộc phong tỏa cũng sẽ không thể trực tiếp làm suy yếu quân đội Trung Quốc. Ví dụ, Trung Quốc có thể các nguồn dự phòng và kho dự trữ của mình, cùng với một mức độ nhập khẩu hạn chế và sản xuất trong nước, để cung cấp nhiên liệu cho bộ máy quân sự của mình trong suốt cuộc xung đột.

Vì vậy, giá trị thực của một cuộc phong tỏa sẽ là khả năng của nó bắt Bắc Kinh phải chịu sự thiệt hại tài chính cực lớn. Đặc biệt là một cuộc phong tỏa sẽ đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào tình trạng suy sụp bằng cách đánh vào ba yếu huyệt: sự phụ thuộc kép của Trung Quốc vào cả nhập khẩu nguyên liệu trung gian và nhập khẩu nguyên liệu thô và mức độ sáng tạo nội địa thấp. Trung Quốc đã cơ cấu phần lớn nền kinh tế định hướng xuất khẩu của mình xung quanh việc nhập khẩu các hàng hóa trung gian, một hiện tượng đặc biệt rõ trong các khu vực công nghệ cao của kinh tế Trung Quốc. Điểm yếu này bị khoét sâu thêm bởi sự phụ thuộc khó tin của Trung Quốc vào nguyên liệu thô (trong đó có dầu mỏ) và sáng tạo công nghệ của nước ngoài làm cơ sở của các quá trình sản xuất của Trung Quốc.

Do cuộc phong tỏa nhằm vào cả ba khu vực này, nó sẽ gây ra thiệt hại đáng kinh ngạc cho Trung Quốc. Tất nhiên là Trung Quốc có thể dần tìm ra cách khắc phục cho mất đi khả năng tiến hành hoạt động thương mại và họ có thể tái thiết nền kinh tế của mình từ dưới lên trên, nhưng một cuộc xung đột tiếp diễn hiển nhiên vẫn có thể gây ra một tốc độ tiêu hao kinh tế thật khủng khiếp, vượt quá khả năng bù đắp của Bắc Kinh.

Kết luận

Bối cảnh, việc tiến hành và những hậu quả của một cuộc phong tỏa Mỹ đối với Trung Quốc sẽ bị chìm sâu vào vũng lầy của chính trị toàn cầu. Để vượt qua thành công những thách thức khác nhau của cuộc phong tỏa, Mỹ và các đồng minh sẽ phải cân nhắc cẩn thận những ảnh hưởng chiến lược của các hành động của họ với sự đóng góp của chúng cho hiệu quả của sự phong tỏa tổng thể. Trong gần như mọi hoàn cảnh, sự đánh đổi sẽ là vô cùng khó khăn về chính trị và sẽ đòi hỏi một mức độ linh hoạt cao và sáng tạo từ phía Mỹ. Những tính toán thiệt hơn sẽ được thực hiện với những cân nhắc khác nhau trong tâm trí mà trên hết là giá trị của các lợi ích của Mỹ bị tác động trong cuộc xung đột.

Tuy nhiên, bất chấp những thách thức lớn, một cuộc phong tỏa đường biển là có thể cả về mặt thực thi lẫn về mặt chiến lược, mặc dù chỉ ở trong giới hạn nhất định. Thậm chí bất chấp một cuộc phong tỏa hiệu quả tối đa, Trung Quốc vẫn sẽ có thể đáp ứng các nhu cầu quân sự của mình một cách vô thời hạn và Trung Quốc có thể tồn tại dựa trên các nguồn dự trữ dầu chiến lược, các kho dự trữ và lượng dự trữ ngoại tệ lớn trong một thời gian dài. Kết quả là, hiệu quả của cuộc phong tỏa sẽ tạo ra khả năng làm suy yếu kinh tế đối với Trung Quốc.

Nếu Mỹ có thể xây dựng được một liên minh tối thiểu gồm Ấn Độ, Nhật Bản và Nga, một nhiệm vụ sẽ phụ thuộc vào hành vi hung hăng của Trung Quốc, thì tốc độ suy kiệt kinh tế của Trung Quốc sẽ tăng đột biến thậm chí cả khi Mỹ giành được sự ủng hộ chính trị, Mỹ cũng sẽ phải tiếp tục chiến lược phong tỏa vô thời hạn. Trong bối cảnh này, khi mà Mỹ sẽ không thể lợi dụng sự phụ thuộc của Bắc Kinh đối với thương mại hàng hải để đánh bại hẳn Trung Quốc trong một cú đấm nhanh, nó vẫn có thể giúp tiêu hao sinh lực của Trung Quốc cho đến khi Bắc Kinh cuối cùng phải chịu quy phục.

---------

Sean Mirski là đồng biên tập của công trình “Điểm then chốt của Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ và trật tự toàn cầu đang nổi lên” (Crux of Asia: China, India and the Emerging Global Order). Bài viết này dựa trên một bài dài hơn đã được công bố trên tạp chí Journal Strategic Studies.


Nguồn: How to Win a War with China / Sean Mirski // The National Interest, 1.11.2013.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

Mỹ gấp rút điều 60% hải quân tới củng cố 'trục châu Á'

Hôm 25/10, hãng tin AFP đưa tin, Chuẩn Đô đốc Mark C. Montgomery, tư lệnh hạm đội tàu sân bay USS George Washington, tuyên bố Mỹ đã tăng cường đáng kể lượng tàu chiến và máy bay ở châu Á, bất chấp sự khủng hoảng ngân sách của Washington, củng cố vững chắc hơn ‘trục’ của Mỹ ở Châu Á.

Ông Montgomery còn cho rằng việc Mỹ mở rộng lực lượng quân sự này sẽ làm dịu đi những căng thẳng và những tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.


Tàu sân bay USS George Washington trong tập trận chung Mỹ- Hàn năm 2010

Phát biểu trong cuộc phỏng vấn với AFP hôm 23/10, Montgomery nói: "Kế hoạch tái cân bằng chiến lược của Mỹ đã dẫn đến việc Mỹ tăng cường số lượng tàu tuần dương và tàu khu trục". " Có nhiều tàu hơn chúng ta sẽ có sự hiện diện rõ ràng hơn . Nó cho phép chúng ta có một lực lượng lớn mạnh hơn”.

Montgomery cho biết chiến lược châu Á không hề bị ảnh hưởng bởi việc Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng và việc chính phủ Mỹ gần đây đã phải đóng cửa trong 16 ngày.

Ông khẳng định: “Chiến dịch tái cân bằng vẫn diễn ra một cách suôn sẻ. Chúng tôi có đủ ngân sách để phục vụ các hoạt động tại đây. Thực tế số lượng tàu chiến và máy bay ngày càng gia tăng ở châu Á”.

Năm ngoái, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết ở Singapore rằng, Lầu Năm Góc sẽ chuyển 60 % hải quân Mỹ tới khu vực Thái Bình Dương vào năm 2020 theo kế hoạch ‘trục châu Á’ mà Washington đã công bố .

Montgomery tiết lộ, tàu và máy bay từ San Diego, California và Trân Châu Cảng ở Hawaii sẽ được triển khai tới khu vực châu Á vào khoảng 8 tháng tới.

Montgomery cho biết sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Mỹ tại châu Á là một yếu tố giúp ổn định tình hình.

http://infonet.vn/The-gioi/My-gap-rut...