Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013
Làm thế nào để đánh thắng Trung Quốc
Thách thức đang nổi lên do hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc đã khiến nước Mỹ phải xem xét lại các chiến lược quân sự hiện tại và xây dựng những chiến lược mới, điều được minh họa bằng các cuộc tranh luận đang diễn ra về khái niệm “Tác chiến không-biển” (AirSea Battle - ASB), một khái niệm tác chiến mới được Bộ Quốc phòng đưa ra. Nhưng trong vô số những chiến lược có thể, ý tưởng về một chiến lược phong tỏa đường biển cần được xem xét kỹ lưỡng hơn.
Bằng cách thực hiện phong tỏa đường biển, Mỹ sẽ khai thác sự phụ thuộc nặng nề của Trung Quốc vào ngoại thương, đặc biệt là dầu mỏ, để làm suy yếu nhà nước Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa có tổ chức cẩn thận vì thế có thể trở thành một công cụ ghê gớm của sức mạnh quân sự Mỹ góp phần khắc phục thách thức đầy áp lực từ hệ thống vũ khí chống tiếp cận/phong tỏa khu vực(A2/AD) đáng gờm của Trung Quốc. Một cuộc phong tỏa cũng có thể dễ dàng kết hợp với các chiến lược quân sự thay thế, kể cả những chiến lược dựa trên khái niệm ASB.
Trong bối cảnh một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ, nước Mỹ có thể cố gắng biến sức mạnh quốc gia lớn nhất của Trung Quốc - mô hình kinh tế định hướng xuất khẩu, tăng trưởng bùng nổ của họ - thành một nhược điểm quân sự lớn. Để làm như vậy, Mỹ sẽ thực hiện một cuộc phong tỏa đường biển đối với Trung Quốc nhằm bóp nghẹt phần lớn hoạt động thương mại hàng hải của Trung Quốc. Trong những các điều kiện thuận lợi, Mỹ sẽ có thể giành chiến thắng bằng cách làm suy yếu nền kinh tế Trung Quốc đủ nghiêm trọng để buộc họ ngồi vào bàn đàm phán.
Tuy nhiên, cho đến gần đây, một chiến lược phong tỏa phần nhiều bị bỏ qua, có lẽ vì các chiến lược chiến tranh kinh tế dường như vốn đã là sai lầm trong điều kiện tồn tại các mối quan hệ thương mại chặt chẽ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nhưng nếu một cuộc xung đột nghiêm trọng nổ ra giữa hai nước, thì các lợi ích an ninh trực tiếp của hai nước sẽ nhanh chóng vượt lên trên sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại của họ và gây ra thiệt hại kinh tế rất lớn cho cả hai bên, bất kể một cuộc phong tỏa có được áp đặt hay không.
Ngay cả khi một cuộc phong tỏa không bao giờ thực hiện, thì khả năng thực hiện nó vẫn sẽ tác động đến chính sách của Mỹ và Trung Quốc vì lý do răn đe. Chiến lược khu vực của Mỹ được xác định trên niềm tin rằng, một cán cân quân sự có lợi sẽ răn đe và ngăn cản những âm mưu tiềm tàng của Trung Quốc tìm cách thay đổi hiện trạng bằng vũ lực, do đó có tác dụng trấn an các đồng minh và duy trì sự ổn định chiến lược.
Khả năng thi hành một cuộc phong tỏa ảnh hưởng đến tính toán này còn có thể có ảnh hưởng tương ứng đến các hành động của Mỹ và Trung Quốc, cả về quân sự và phi quân sự, vốn được dựa trên sự nhận thức về nó. Nếu một cuộc phong tỏa đường biển là một chiến lược khả thi, nó sẽ tăng cường hệ thống răn đe của Mỹ và làm giảm hiệu lực của bất kỳ nỗ lực tiềm năng nào của Trung Quốc nhằm ép buộc Mỹ hay đồng minh.
Hơn nữa, nếu tính khả thi của một cuộc phong tỏa có thể được nêu lên một cách rõ ràng, nó sẽ còn nâng cao sự ổn định khủng hoảng và làm giảm triển vọng leo thang do sự hiểu lầm ở cả hai bên về cán cân sức mạnh trong khu vực. Tóm lại, đúng như Elbridge Colby đã nói: “Một câu thành ngữ vẫn còn đúng là cách tốt nhất để tránh chiến tranh vẫn là hãy chuẩn bị cho nó”.
Trong khi một cuộc phong tỏa không phải là một điều không thể hoặc không thích hợp trong mọi tình huống, thì nó cũng không phải là một công cụ sẵn sàng trong kho vũ khí của Mỹ và sẽ chỉ khả thi chủ yếu trong những phạm vi nhất định. Quan trọng nhất, nhiều nhà bình luận bỏ qua một thực tế là một cuộc phong tỏa chính là một chiến lược phụ thuộc vào bối cảnh, điều phụ thuộc chủ yếu vào môi trường khu vực.
Bối cảnh chiến lược
Việc phong tỏa sẽ không được Mỹ khinh xuất sử dụng do chi phí tiềm năng lớn của nó. Do đó, Washington có thể sẽ chỉ xem xét thực hiện phong tỏa trong một cuộc xung đột kéo dài liên quan đến những lợi ích sống còn; bất cứ lý do gì nhỏ hơn sẽ không hợp lý khi phân tích chi phí-lợi ích cơ bản.
Nhưng quan trọng hơn là một chiến lược phong tỏa sẽ phụ thuộc vào sự hợp tác của nhiều bên thứ ba trong khu vực. Nói cho cùng, hoạt động thương mại của Trung Quốc được thực hiện trên các vùng biển chủ yếu là kết quả của những tính toán kinh tế, chứ không phải là do những hạn chế vật lý; nếu Trung Quốc bị phong tỏa, họ sẽ chuyển sang các nước giáp giới để xin giúp đỡ.
Trong khi nhiều nước láng giềng của Trung Quốc sẽ không thể tạo ra sự khác biệt chiến lược vì địa lý hiểm trở hoặc lãnh thổ của họ quá nhỏ, ba nước có thể có vai trò thiết yếu là Ấn Độ, Nhật Bản, và Nga. Nhật và Nga sẽ rất quan trọng trong việc giúp Mỹ cắt đứt các tuyến đường thương mại của Trung Quốc tương ứng ở phía nam và phía đông thông qua việc cấm vận quốc gia đối với Trung Quốc và gây sức ép với các nước láng giềng nhỏ hơn của họ cùng làm như vậy. Nếu không có sự hợp tác của họ, nhiệm vụ của Hoa Kỳ sẽ trở nên khó khăn hơn.
Nước cuối cùng trong ba nước láng giềng đó của Trung Quốc là Nga sẽ là có vai trò then chốt để phong tỏa thành công, và có thể làm nghiêng cán cân của phong tỏa nghiêng về phía lợi cho Trung Quốc hay Mỹ. Một mặt, Nga có vị trí khá thuận lợi để giảm bớt ảnh hưởng của cuộc phong tỏa đối với Trung Quốc. Hoạt động thương mại của Nga sẽ được miễn dịch trước sự ngăn chặn của Mỹ do kho vũ khí hạt nhân và các lực lượng, vũ khí thông thường của Nga có thể ngăn cản bất kỳ mưu toan ép buộc quân sự nghiêm túc nào của Mỹ.
Nhưng mặt khác, nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc cũng có thể rung hồi chuông báo tử cho khả năng chống phong tỏa của Trung Quốc. Ở cấp độ chính trị, Moscow vẫn tiếp tục gây ảnh hưởng đối với các quyết định ở thủ đô các nước láng giềng Trung Á của Trung Quốc và có thể thuyết phục họ từ chối lời cầu xin của Trung Quốc để các nước này đóng vai trò như các quốc gia quá cảnh. Nga cũng có thể đảm bảo rằng, hai nhà sản xuất dầu láng giềng của Trung Quốc sẽ không còn cung cấp dầu cho Trung Quốc nữa.
Vì thế, để thực hiện được một cuộc phong tỏa có hiệu quả chiến lược đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ cố gắng xây dựng một “liên minh tối thiểu” với Ấn Độ, Nhật Bản và Nga. Nếu cả ba quốc gia cùng chung sức tham thực hiện cuộc phong tỏa của Mỹ, thì Trung Quốc sẽ bị đẩy vào vòng kiềm tỏa bóp nghẹt cả về kinh tế và chính trị. Tuy nhiên, nếu không được thế, thì chiến lược phong tỏa sẽ “khu vực hóa” một cuộc chiến tranh Trung-Mỹ theo một cách cơ bản là bất lợi cho lợi ích của Mỹ.
Một liên minh tối thiểu như vậy chỉ có thể ra đời theo một cách duy nhất: nhằm vào những sơ hở của hành động quyết đoán của Trung Quốc nhằm giành quyền bá chủ khu vực vốn có tác động thúc đẩy một sự ủng hộ của khu vực đối với sự phản ứng mạnh mẽ của Mỹ. Nếu không có yếu tố một Trung Quốc hung hăng, thì hành động cấm vận tập thể sẽ bị cản trở bởi những hậu quả tiềm năng của cuộc phong tỏa, trong đó hậu quả không nhỏ là nguy cơ xảy ra xung đột khu vực lớn hơn với Trung Quốc. Bốn nước (Mỹ, Ấn Độ, Nhật Nga) khó có khả năng tập hợp với nhau quanh một chính sách kiềm chế tiềm ẩn cho đến khi mỗi nước đều cảm thấy, lợi ích quốc gia của mình có thể bị Trung Quốc đe dọa trong tương lai.
Trong khi một khả năng như vậy hiện tại có thể cảm thấy xa vời, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga đều lo ngại, Bắc Kinh có thể một ngày nào đó kết luận là họ phải sử dụng vũ lực để bảo vệ lợi ích của mình và để giải quyết nan đề an ninh của họ trong những điều kiện thuận lợi. Cả bốn cường quốc ngày càng tìm cách bảo hiểm tiền đặt cược của họ để chống lại khả năng này. Nếu sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á tiếp tục tăng, thì sự liên kết giữa cả bốn quốc gia này sẽ được tăng cường, không phải vì bất kỳ niềm tin nào về ý định hiếu chiến của Trung Quốc, mà là vì sự bất định hoàn toàn về vị thế tương lai của họ.
Thách thức về mặt thực thi phong tỏa
Kể cả khi giả định rằng, Mỹ có thể tập hợp được một liên minh cần thiết, họ sẽ dứt khoát phải đối mặt với thách thức về thực thi phong tỏa gây rắc rối cho tất cả các chiến lược phong tỏa hiện đại.
Về mặt tác chiến, các cuộc phong tỏa được đặc trưng bởi khoảng cách từ bờ biển của quốc bị phong tỏa và chúng có hai hình thức: gần và xa. Một cuộc phong tỏa gần thường được thực thi bằng cách lập một hàng rào của các tàu chiến ở ngoài khơi bờ biển đối phương để lục soát tất cả các tàu buôn đến hoặc đi và ngăn chặn các tàu chở hàng lậu. Tuy nhiên, trong một thế kỷ rưỡi qua, các cuộc phong tỏa gần ngày càng trở nên nguy hiểm do các nước tham chiến đã phát triển được công nghệ tung sức mạnh từ bờ biển của họ. Để đối phó, các cường quốc tiến hành phong tỏa đã chuyển sang phong tỏa từ xa. Một cuộc phong tỏa từ xa giúp tránh được các nguy cơ về quân sự vì ở gần bờ biển đối phương bằng cách bố trí lực lượng, phương tiện phong tỏa ở xa, nhưng vẫn ngăn chặn được các tuyến đường biển của đối phương và do đó, nó triệt phá được hoạt động thương mại của đối phương giống như phong tỏa gần.
Một cuộc phong tỏa gần hay phong tỏa từ xa đối với Trung Quốc một mình nó không thể thành công do những hạn chế đặt ra bởi những yêu cầu quân sự và bản chất của thương mại hàng hải. Một mặt, một cuộc phong tỏa gần thông thường sẽ cực kỳ khó khăn vì Mỹ muốn giảm thiểu các nguy cơ quân sự cho các tàu chiến Mỹ. Một khi tiến gần hơn lãnh thổ Trung Quốc, các lực lượng Mỹ sẽ ngày càng đặt mình vào tầm uy hiếp của các hệ thống A2/AD của Trung Quốc, có thể làm hạn chế quyền tự do hành động của họ và kết quả là những tổn thất nặng nề. Các lực lượng Mỹ có thể tránh được mối đe dọa từ hệ thống A2/AD của Trung Quốc bằng cách tiến hành cuộc phong tỏa gần bằng các tàu ngầm, lực lượng không quân tầm xa và thủy lôi; nhưng bằng cách đó, cuộc phong tỏa cũng sẽ mất đi phần lớn khả năng của mình phân biệt giữa hoạt động thương mại trung lập và và hoạt động thương mại của kẻ thù.
Mặt khác, logic đằng sau các cuộc phong tỏa từ xa thông thường cũng bị mất hiệu quả như thế bởi các nhu cầu cấp thiết của thương mại hiện đại. Ngày nay, nguyên liệu thô và hàng hóa chở trên tàu biển có thể được bán và bán lại nhiều lần trong một hành trình, vì thế không thể biết quyền sở hữu và điểm đến cuối cùng của hàng hóa trên tàu cho đến tận khi tàu cập cảng. Mặc dù Mỹ có thể thiết lập một cuộc phong tỏa từ xa thông thường ngăn chặn tất cả các tàu thuộc sở hữu Trung Quốc hoặc mang cờ Trung Quốc, Trung Quốc vẫn có thể đơn giản là mua hàng hóa của các tàu chở hàng trung lập sau khi chúng đã đi qua vòng đai phong tỏa, làm thất bại hoàn toàn mục đích của cuộc phong tỏa.
Giải pháp: Phong tỏa hai vành đai
Để khắc phục sự ớt của hai kiểu phong tỏa, Mỹ sẽ tận dụng những gì tốt nhất của cả hai thế giới và thực hiện “hai vành đai” phong tỏa gồm hai vòng tròn đồng tâm bao quanh bờ biển Trung Quốc.
Trung tâm của phong tỏa hai vành đai sẽ là “vành đai bên trong” của nó, vốn sẽ là một sự phong tỏa gần khác thường chủ yếu nhằm vào việc ngăn chặn các tàu biển đi đến Trung Quốc mà không cần phải lên các tàu này trước. Vành đai này sẽ tạo ra một một vùng loại trừ xung quanh bờ biển Trung Quốc, khu vực bị tuyên bố là cấm vận chuyển thương mại và được thực thi bởi một chính sách “bắn chìm nếu trông thấy” thông qua việc sử dụng các tàu ngầm tấn công, không quân tầm xa và thủy lôi. Khác với các phương tiện quân sự khác, ba loại vũ khí này có thể hoạt động tương đối an toàn trong tầm hoạt động của hệ thống các phương tiện A2/AD của Trung Quốc bằng cách lợi dụng khả năng chống ngầm yếu ớt của Trung Quốc và lực lượng chống thủy lôi kém cỏi của họ. Trong khi bộ ba phương tiện quân sự này sẽ không đảm bảo tạo ra được hàng rào hoàn toàn không thể vượt qua đối với tàu bè, khu vực loại trừ vẫn có thể đạt được mục tiêu phong tỏa vì điểm tựa của chiến dịch của Mỹ sẽ được đặt vào khả năng răn đe hơn là vào vũ lực. Ngay sau khi các lực lượng Mỹ đã công khai đánh chìm nhiều tàu buôn lớn, phần lớn các tàu khác sẽ bị răn đe để không cố vi phạm lệnh phong tỏa và dòng chảy liên tục của thương mại hàng hải của Trung Quốc sẽ nhanh chóng cạn kiệt.
Nhưng trong khi tàu ngầm, không quân tầm xa và thủy lôi có thể thực thi hiệu quả một khu vực loại trừ như một phần của vành đai phong tỏa bên trong, tất cả các phương tiện này là các công cụ cùn, không thể nhận biết sự khác biệt giữa một tàu chở hàng hóa Trung Quốc và một con tàu vận chuyển hàng hoá Nhật Bản, chúng cũng không chặn lại, lên tàu khám xét và lùng sục các tàu nghi vấn. Kết quả là vành đai phong tỏa bên trong tự nó sẽ có khả năng gây ra những rắc rối chính trị lớn khi Mỹ vô tình đánh chìm các con tàu trung lập, và Washington có thể phải đối mặt thêm với những hậu quả chính trị do vùng loại trừ không thể để các hàng hóa đáp ứng nhu cầu y tế và các nhu cầu cơ bản đến được Trung Quốc.
Để đối phó với những hậu quả chính trị đó, Mỹ sẽ thiết lập một vành đai phong tỏa thứ hai, “vành đai ngoài” cho phép sử dụng vũ lực một cách có chọn lọc hơn, đồng thời có tác dụng như một thiết bị sàng lọc. Ngược lại với vành đai phong tỏa bên trong, vòng đai ngoài phần lớn sẽ bao gồm các tàu chiến tập trung vào cả việc phân biệt giữa các hoạt động thương mại khu vực khác nhau với độ chính xác cao hơn và lẫn bổ sung một thành tố phi sát thương vào những nỗ lực vô hiệu hóa có tính sát thương của vành đai bên trong. Vành đai ngoài sẽ không phải là một điều kiện tiên quyết cho thành công của hoạt động phong tỏa, mặc dù nó sẽ là một sự hỗ trợ lớn, nhưng nó sẽ là quan trọng trong việc đảm bảo khả năng thành công chiến lược của nó.
Vành đai ngoài sẽ được thiết lập ở ngoại vi các vùng biển gần Trung Quốc, tức là bên ngoài tầm hoạt động của hệ thống A2/AD của Trung Quốc và sẽ được tập trung quanh các hành lang quan trọng trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á, trong đó có eo biển Malacca. Mỹ sẽ lập các trạm kiểm soát phong tỏa tại các hành lang (như eo Malacca) quan trọng nhất đối với giao thông đường biển quốc tế, trong khi các hành lang nhỏ hơn sẽ bị đóng hoàn toàn đối với giao thông tàu bè quốc tế.
Tại các điểm kiểm tra ở vành đai ngoài, Mỹ sẽ cần thiết lập và sắp xếp một chế độ kiểm tra nghiêm ngặt. Nếu Mỹ phát hiện ra một con tàu có đích đến Trung Quốc, do Trung Quốc sở hữu hoặc đăng ký tại Trung Quốc, thì Mỹ có thể chặn nó lại.
Mỹ cũng có thể áp dụng một hệ thống tương tự như hệ thống giấy quá cảnh Anh trong Thế chiến II, nó sẽ cung cấp cho Mỹ một bản đồ không gian khá chính xác về vị trí và đường đi của tất cả các tàu thương mại trong khu vực. Mỹ sau đó sẽ tích hợp các bản đồ không gian của các giấy quá cảnh với hỏa lực của vành đai bên trong để tạo ra một lực lượng mạnh mẽ chống lại những kẻ vi phạm chế độ phong tỏa, đồng thời cũng làm giảm tỷ lệ các sự cố đánh chìm tàu vô ý, nhất là các tàu chở hàng nhân đạo. Tuy là một quá trình không hoàn hảo, hệ thống giấy phép quá cảnh sẽ vẫn làm tăng đáng kể những rủi ro cho các con tàu né tránh phong tỏa đến mức vi phạm chế độ phong tỏa trở nên quá nguy hiểm khiến chúng không tìm cách vi phạm nữa, trừ những con tàu thích mạo hiểm nhất. Nhưng có lẽ còn quan trọng hơn là nó sẽ giúp giảm bớt những ảnh hưởng chính trị gây ra bởi việc tiêu diệt không phân biệt và gây chết người của vành đai phong tỏa bên trong.
Những hậu của cuộc phong tỏa
Mặc dù những hậu quả của một cuộc phong tỏa sẽ là cực kỳ phức tạp, đa dạng và phụ thuộc lẫn nhau, một cuộc phong tỏa cũng sẽ có thể chứng tỏ là một công cụ làm kiệt sức mạnh mẽ như một phần của chiến dịch tổng thể của Mỹ.
Nhưng trước hết phải công nhận rằng, ngay cả sự phong tỏa hiệu quả nhất cũng sẽ không thể ngăn chặn hoàn toàn các hoạt động thương mại của Trung Quốc, bởi vì ngay cả trong những điều kiện lý tưởng, Trung Quốc vẫn sẽ có khả năng mua được các mặt hàng và tài nguyên thiết yếu nhờ những quy luật không thể né tránh của cung và cầu. Lệnh cấm vận trong khu vực mà Mỹ thiết lập càng hiệu quả, thì tỷ suất lợi nhuận từ việc bán hàng nhập khẩu vào Trung Quốc càng cao. Ngay cả khi tất cả các nước láng giềng của Trung Quốc đồng tình cấm vận nước này, Mỹ vẫn sẽ phải bó tay với nạn buôn lậu tràn lan ở cấp độ phi nhà nước.
Một cuộc phong tỏa cũng sẽ không thể trực tiếp làm suy yếu quân đội Trung Quốc. Ví dụ, Trung Quốc có thể các nguồn dự phòng và kho dự trữ của mình, cùng với một mức độ nhập khẩu hạn chế và sản xuất trong nước, để cung cấp nhiên liệu cho bộ máy quân sự của mình trong suốt cuộc xung đột.
Vì vậy, giá trị thực của một cuộc phong tỏa sẽ là khả năng của nó bắt Bắc Kinh phải chịu sự thiệt hại tài chính cực lớn. Đặc biệt là một cuộc phong tỏa sẽ đẩy nền kinh tế Trung Quốc vào tình trạng suy sụp bằng cách đánh vào ba yếu huyệt: sự phụ thuộc kép của Trung Quốc vào cả nhập khẩu nguyên liệu trung gian và nhập khẩu nguyên liệu thô và mức độ sáng tạo nội địa thấp. Trung Quốc đã cơ cấu phần lớn nền kinh tế định hướng xuất khẩu của mình xung quanh việc nhập khẩu các hàng hóa trung gian, một hiện tượng đặc biệt rõ trong các khu vực công nghệ cao của kinh tế Trung Quốc. Điểm yếu này bị khoét sâu thêm bởi sự phụ thuộc khó tin của Trung Quốc vào nguyên liệu thô (trong đó có dầu mỏ) và sáng tạo công nghệ của nước ngoài làm cơ sở của các quá trình sản xuất của Trung Quốc.
Do cuộc phong tỏa nhằm vào cả ba khu vực này, nó sẽ gây ra thiệt hại đáng kinh ngạc cho Trung Quốc. Tất nhiên là Trung Quốc có thể dần tìm ra cách khắc phục cho mất đi khả năng tiến hành hoạt động thương mại và họ có thể tái thiết nền kinh tế của mình từ dưới lên trên, nhưng một cuộc xung đột tiếp diễn hiển nhiên vẫn có thể gây ra một tốc độ tiêu hao kinh tế thật khủng khiếp, vượt quá khả năng bù đắp của Bắc Kinh.
Kết luận
Bối cảnh, việc tiến hành và những hậu quả của một cuộc phong tỏa Mỹ đối với Trung Quốc sẽ bị chìm sâu vào vũng lầy của chính trị toàn cầu. Để vượt qua thành công những thách thức khác nhau của cuộc phong tỏa, Mỹ và các đồng minh sẽ phải cân nhắc cẩn thận những ảnh hưởng chiến lược của các hành động của họ với sự đóng góp của chúng cho hiệu quả của sự phong tỏa tổng thể. Trong gần như mọi hoàn cảnh, sự đánh đổi sẽ là vô cùng khó khăn về chính trị và sẽ đòi hỏi một mức độ linh hoạt cao và sáng tạo từ phía Mỹ. Những tính toán thiệt hơn sẽ được thực hiện với những cân nhắc khác nhau trong tâm trí mà trên hết là giá trị của các lợi ích của Mỹ bị tác động trong cuộc xung đột.
Tuy nhiên, bất chấp những thách thức lớn, một cuộc phong tỏa đường biển là có thể cả về mặt thực thi lẫn về mặt chiến lược, mặc dù chỉ ở trong giới hạn nhất định. Thậm chí bất chấp một cuộc phong tỏa hiệu quả tối đa, Trung Quốc vẫn sẽ có thể đáp ứng các nhu cầu quân sự của mình một cách vô thời hạn và Trung Quốc có thể tồn tại dựa trên các nguồn dự trữ dầu chiến lược, các kho dự trữ và lượng dự trữ ngoại tệ lớn trong một thời gian dài. Kết quả là, hiệu quả của cuộc phong tỏa sẽ tạo ra khả năng làm suy yếu kinh tế đối với Trung Quốc.
Nếu Mỹ có thể xây dựng được một liên minh tối thiểu gồm Ấn Độ, Nhật Bản và Nga, một nhiệm vụ sẽ phụ thuộc vào hành vi hung hăng của Trung Quốc, thì tốc độ suy kiệt kinh tế của Trung Quốc sẽ tăng đột biến thậm chí cả khi Mỹ giành được sự ủng hộ chính trị, Mỹ cũng sẽ phải tiếp tục chiến lược phong tỏa vô thời hạn. Trong bối cảnh này, khi mà Mỹ sẽ không thể lợi dụng sự phụ thuộc của Bắc Kinh đối với thương mại hàng hải để đánh bại hẳn Trung Quốc trong một cú đấm nhanh, nó vẫn có thể giúp tiêu hao sinh lực của Trung Quốc cho đến khi Bắc Kinh cuối cùng phải chịu quy phục.
---------
Sean Mirski là đồng biên tập của công trình “Điểm then chốt của Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ và trật tự toàn cầu đang nổi lên” (Crux of Asia: China, India and the Emerging Global Order). Bài viết này dựa trên một bài dài hơn đã được công bố trên tạp chí Journal Strategic Studies.
Nguồn: How to Win a War with China / Sean Mirski // The National Interest, 1.11.2013.
Vũ khí Trung Quốc có thể diệt tàu ngầm Kilo
Vũ khí ngầm cơ bản của các xuồng tuần tiễu chủ yếu là bom chìm (khoảng 24.310 quả bom chìm phản lực và bom chìm), số lượng bom chìm khoảng 2500 quả. Xuồng tuần tiễu có nhiệm vụ chống ngầm các khu vực ven biển, vùng nước quanh các căn cứ quân sự Hải quân.
Trên biển lớn, tiềm lực chống ngầm của hải quân PLA là các loại vũ khí chống ngầm và đài sonar trinh sát, tìm kiếm tầu ngầm trang bị cho các tàu khu trục và khinh hạm. Đài sonar hiện đại nhất là tổ hợp sonar "DUBV-23" (phiên bản Trung Quốc là "SJD-8/9").
Đây là tổ hợp sonar trung tần do Pháp sản xuất được lắp trên tàu khu trục “Chu Hải” năm 1991. Tổ hợp sonar chống ngầm có khả năng phát hiện, xác định và theo dõi tàu ngầm ở chế độ chủ động – thụ động, khoảng cách phát hiện mục tiêu đến 20 km.
Tổ hợp sonar "DUBV-23" được lắp cho các khu trục hạm khu trục hạm lớp Lữ Đại, lớp Lự Hộ - 052, Lữ Hải- 051, Lữ Châu 051C, các tàu Quảng Châu, Lan Châu, Thẩm Dương thuộc lớp tàu 052C Lương II, hai chiếc khinh hạm dự án 054. Số lượng tàu trang bị "DUBV-23" chiếm khoảng 15,6% khu trục hạm.
Tổ hợp "DUBV-43" phao kéo được trang bị cho hai khu trục hạm lớp Lữ Hộ, khu trục hạm Chu Hải, và một khu trục hạm lớp Lữ Đại. 4 khu trục hạm "Sovremennyi" nhập khẩu từ Nga được lắp đặt tổ hợp sonar "Platina MS-E" tầm xa phát hiện tàu ngầm từ 10 – 15 km.
Tổng số các tàu có sonar là 14 khu trục hạm và 2 khinh hạm, chiếm 21% tổng số khu trục hạm của Trung Quốc. 15 khu trục hạm còn lại và 46 khinh hạm được lắp sonar phiên bản cũ từ năm 1950 "EH-5" của Liên Xô chiếm61% và "S-07H" Trung Quốc chiếm 18%.
Khu trục hạm "Sovremennyi"
Không quân chống ngầm hạm đội của Trung Quốc là các máy bay trực thăng. Có 14 khu trục hạm và 17 khinh hạm có sàn đỗ trực thăng, chiếm khoảng 40% tổng số tàu khu trục. Ba loại trực thăng chống ngầm được sử dụng là "Z-9А, -С", "Ка-28" và "Z-8". "Z-9А" là trực thăng của Pháp AS 565 "Panther" lắp đặt thiết bị dò tìm "Thomson" ngư lôi chống ngầm "244S" của Ý.
Tiếp theo Trung Quốc sản xuất "Z-9С" theo lisence trực thăng AS 365N "Dauphin II" của Pháp, mang tên lửa hoặc ngư lôi chống ngầm.
Trực thăng đa nhiệm "Ка-28"là máy bay chống ngầm thuộc biên chế của các khu trục hạm dự án 956E và 956EМ. Đến năm 2006 Hải quân PLA có 11 chiếc Ka-28. Tổng số trực thăng chống ngầm có 42 chiếc bao gồm 19 chiếc "Z-9А, -С" và 4 chiếc "Ка-28" trên tàu khu trục, 19 chiếc "Z-9А,-С" trên khinh hạm.
Trực thăng chống ngầm Z-9C Trung Quốc
Lực lượng không quân tuần biển – chống ngầm Hải quân PLA có 4 chiếc thủy phi cơ "SH-5", 8 chiếc máy bay tuần biển "Y-8X" và 23 máy bay trực thăng "Z-8" và "SA 321Ja "Super Frelon" của Pháp. Máy bay tuần biển "Y-8X" là phiên bản An – 12 bán kính hoạt động 5620 km, trang bị hệ thống trinh sát hồng ngoại và vũ khí chống ngầm (bom chìm, ngư lôi).
Trực thăng Z-8 có tầm bay khoảng 830 km, thời gian hoạt động liên tục là 2,5 h. Theo nhiều nguồn tin, Hải quân PLA đang muốn mua thêm 15 máy bay chống ngầm lưỡng cư "Бе-200" nhằm tăng cường khả năng chống ngầm trên biển lớn.
Lực lượng chống ngầm mạnh nhất của Trung Quốc là các tàu ngầm được trang bị các đài sonar và ngư lôi chống ngầm.
Hiện nay, các đài sonar trang bị cho tàu ngầm là đài sonar "Eledon" của Pháp, nhập khẩu năm 1976. Đài có anten "TSM 2233" bao gồm anten thụ động xác định khoảng cách "DUUX-5" "Fenelone" và anten chủ động "Velox M5/M7". Khoảng cách phát hiện tàu ngầm từ 20 – 30 km phía trước.
Sonar "Eledon" lắp trên các tàu ngầm nguyên tử lớp Xia, Hán và tàu ngầm diesel lớp Minh, riêng tàu ngầm lớp Minh còn lắp thêm các anten bên sườn "DUUX-2" tầm hoạt động là 1200 m.
Trên các tàu ngầm diesel dự án 877 và 636 lớp Kilo được trang bị sonar "CIM-400E - EM", khả năng phát hiện mục tiêu tàu ngầm trên khoảng cách 16 km, xác định và dẫn bắn 2 mục tiêu, theo dõi 12 mục tiêu.
Vũ khí chống ngầm hiện đại chủ yếu của Hải quân Trung Quốc là ngư lôi chống ngầm các loại, bao gồm có ngư lôi Yu – 4A cỡ đạn 533m , Tect – 71, Yu – 7, A-244 cỡ đạn 324 dành cho không quân chống ngầm. Các ngư lôi đều có thể hoạt động ở độ sâu từ 5 – 400m. Trung Quốc còn sở hữu tên lửa chống ngầm 91RE1 thuộc tổ hợp Club- N.
Ngư lôi chống ngầm A 244 của Ý
Trên các khu trục hạm và khinh hạm lắp các tổ hợp phóng bom chìm phản lực 12 ống phóng "FQF-2500" 213-mm, cơ số đạn 120. Các khu trục hạm nhập khẩu từ Nga lắp đặt tổ hợp 6 ống phóng 305-mm "РBU-1000", cơ số đạn 48.
ực lượng chống ngầm hải quân PLA thực tế chỉ đáp ứng yêu cầu bảo vệ các cụm chiến hạm và các vùng nước, các căn cứ hải quân ven biển và hải đảo. Với vũ khí trang bị chống ngầm hiện có, Hải quân Trung Quốc chưa đủ tiềm lực để thống trị các vùng nước lớn như Biển Đông và biển Hoa Đông.
Trịnh Thái Bằng (Nguồn: Flot.com)
Báo Đất Việt
Google Earth tiết lộ căn cứ quân sự tuyệt mật của Trung Quốc
Theo nguồn tin trên, hiện Trung Quốc đang lo ngại nguy cơ lộ bí mật quân sự của mình khi các nước khác dùng các phương tiện trinh sát vũ trụ thăm dò tiềm lực quân sự nước này. (Trong ảnh: Các căn cứ quân sự chính trên lãnh thổ Trung Quốc)
Theo ước tính, Trung Quốc hiện có gần 130 tên lửa đạn đạo chiến lược mang đầu đạn hạt nhân. (Ảnh chụp Trung Quốc đang xây dựng khu vực phóng cho tên lửa đạn đạo xuyên lục địa Đông Phong-31/31A ở phía Đông tỉnh Thanh Hải)
Theo tính toán của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Trung Quốc có ít nhất 50 tên lửa đạn đạo có thể vươn tới nước Mỹ. (Trong ảnh: Tên lửa đạn đạo DF-31).
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng đang chuyển đổi các tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, từ tên lửa nhiên liệu lỏng sang dùng nhiên liệu rắn và nghiên cứu hệ thống mang tên lửa có tính cơ động cao. (Trong ảnh: Một bãi phóng tên lửa có diện tích 2.800 km²).
Theo đánh giá của tình báo Mỹ, khả năng cơ động của bệ phóng tên lửa Trung Quốc có điểm vượt hơn Nga, do đặc điểm địa hình của Trung Quốc có cây cối rậm rạp, có thể di chuyển bệ phóng ngay trong ban ngày trong khi địa hình của Nga trống trải dễ bị phát hiện.
Ngoài tên lửa đạn đạo, trong biến chế của lực lượng tên lửa phòng không của Trung Quốc có đến 120 tổ hợp tên lửa phòng không các dạng HQ-2, HQ-61, HQ-7, HQ-9, HQ-12, HQ-16, C-300PMU, С-300 PMU -1/2, và có gần 700 bệ phóng. (Trong ảnh: Tổ hợp tên lửa phòng không ở Thanh Đảo)
Tổ hợp tên lửa lỗi thời HQ-2 tình đến đầu năm 2013 chỉ còn 10 % so với số lượng năm 2012. (Ảnh: Khu vực bố trí tổ hợp НQ-2)
Trong không quân Trung Quốc có khoảng 4.000 máy bay chiến đấu, trong đó có từ 500-600 chiếc có thể mang vũ khí hạt nhân, khoảng 3.000 chiếc là máy báy tiêm kích và gần 200 chiếc là máy bay ném bom. (Trong ảnh: Khu vực chế tạo máy bay chiến đấu hiện đại J-11В tại Thẩm Dương)
Lực lượng chủ chốt của không quân hạt nhân chiến lược của Trung Quốc là máy bay Н-6, được chế tạo dựa trên máy bay nén bom tầm xa Тu-16 của Nga.(Trong ảnh: Căn cứ của máy bay H-6)
Trọng tải chiến đấu của H-6 được nâng lên thành 12.000 kg. Máy bay mang 6 tên lửa CJ-10A. Khu vực hoạt động của H-6 bao trùm cả vùng Đông Siberia, Baikal, Viễn Đông của Nga. Tính đến tháng 6/2013, Trung Quốc có khoảng 120 máy bay H-6 với các biến thể khác nhau.
Ngoài ra, trong biên chế của lực lượng không quân hải quân, Trung Quốc vẫn duy trì số lượng lớn máy bay nén bom Н-5, có thể sử dụng để làm máy bay huấn luyện.
Xét về hải quân, lực lượng hạt nhân hải quân của Trung Quốc hiện nay chủ yếu sử dụng tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa Type 092. (Ảnh tàu ngầm Type 092 chụp tháng 9/2011)
Bên cạnh đó, Trung Quốc đang đóng và sẽ đưa vào biên chế 4 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo Type 094. (Ảnh: Hai tàu Type 094 đang được hoàn thành)
Lực lượng hải quân Trung Quốc hiện nay đã có hơn 200 tàu ngầm và tàu chiến mặt nước.
Theo Soha News
Thứ Tư, 30 tháng 10, 2013
"Mỹ sẵn sàng giúp lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam"
Dự cuộc đối thoại trên đây về phía Việt Nam có Đoàn cán bộ quân sự cấp cao do Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu. Đoàn Mỹ dự đối thoại do Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Vikram Singh dẫn đầu cùng 42 thành viên là quan chức của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao và các cơ quan khác của Chính phủ.
Cuộc đối thoại lần thứ tư diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Mỹ đã tuyên bố phát triển quan hệ đối tác toàn diện hồi tháng Bảy qua.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đánh giá cuộc đối thoại lần này thành công tốt đẹp, phù hợp tiến trình phát triển quan hệ giữa hai nhà nước, đáp ứng nhu cầu, điều kiện và lợi ích của mỗi nước cũng như lợi ích của khu vực. Tại cuộc đối thoại, Phó Trợ lý bộ trưởng Vikram Singh đã truyền tải thông điệp của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cho biết dù gặp khó khăn về ngân sách, nhưng chính sách tái cân bằng ở Châu Á-Thái bình dương của Mỹ là không thay đổi. Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với các đồng minh cũng như đối tác mới, trong đó có Việt Nam. Với tinh thần đó, hai bên đã thẳng thắn trao đổi, đánh giá tiến trình hợp tác quốc phòng và quân sự giữa hai nước kể từ cuộc đối thoại lần thứ ba tổ chức cuối năm 2012 tại Hà Nội. Mỹ bày tỏ sự biết ơn đối với Chính phủ, quân đội và nhân dân Việt Nam trong việc tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh, coi đây là một lĩnh vực hợp tác nhân đạo mang tính biểu tượng.
Tại cuộc đối thoại, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh đã thay mặt Đoàn trao bốn bộ hồ sơ gồm các địa điểm tìm kiếm mới mà Việt Nam sẽ tạo điều kiện cho Mỹ trong thời gian tới. Mỹ cũng cam kết tiếp tục tăng cường hỗ trợ Việt Nam giải quyết các vấn đề tẩy độc dioxin, xử lý bom mìn cùng vật liệt nổ còn sót lại sau chiến tranh. Phía Mỹ cam kết sẽ tiếp tục thúc đẩy quá trình tập hợp thông tin để cung cấp cho phía Việt Nam tìm kiếm hài cốt quân nhân Việt Nam đã hy sinh trong chiến tranh. Hai bên cũng cam kết thúc đẩy hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, giảm nhẹ hậu quả thiên tai giữa hai bên bằng cách chia sẻ kinh nghiệm và tăng cường năng lực. Đặc biệt, Mỹ sẵn sàng tăng cường hợp tác với Việt Nam, hỗ trợ lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam. Hai bên mong muốn hợp tác trong lĩnh vực an ninh biển, nghiên cứu dự báo và chia sẻ kinh nghiệm. Các quan chức quốc phòng hai nước đã chứng kiến Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, Thiếu tướng Nguyễn Quang Đạm ký biên bản hợp tác với Đô đốc Lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ, Robert Papp.
Tại cuộc đối thoại, hai bên còn trao đổi ý kiến về tình hình an ninh khu vực và các vấn đề cùng quan tâm, trong đó có tự do an toàn hàng hải, an ninh biển cũng như mối nguy cơ tiềm ẩn đe dọa hòa bình và ổn định trong khu vực. Hai bên có quan điểm chung là giải quyết mọi vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển giữa các quốc gia Đông Á và Đông Nam Á bằng các biện pháp hòa bình, thông qua thương lượng, tôn trọng luật pháp quốc tế. Hai bên bày tỏ mong muốn Trung Quốc và các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sớm thông qua Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC). Ngoài ra, hai bên cam kết sẽ tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo thông qua hợp tác giữa các học viện quốc phòng, các viện nghiên cứu của hai nước, thúc đẩy hoạt động hợp tác giữa các lực lượng chuyên ngành như hải quân, các tàu chiến thăm viếng lẫn nhau và sửa chữa dịch vụ hậu cần tại các cảng của Việt Nam. Hai bên hy vọng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ thăm chính thức Việt Nam trong năm 2014. Mỹ cho biết Bộ trưởng Quốc phòng nước này có kế hoạch mời Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN tới Mỹ vào tháng 4/2014, đồng thời bày tỏ mong muốn Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam cũng sẽ có mặt tại cuộc gặp được đánh giá là quan trọng này.
Về quan hệ hợp tác quốc phòng giữa hai nước trong khuôn khổ đa phương, Mỹ đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế và khu vực, mong muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam và các nước ASEAN nhằm xây dựng lòng tin, đem lại lợi ích chung cho Mỹ và các nước ASEAN. Mỹ cũng hoan nghênh Việt Nam tuyên bố chính thức tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, mong muốn sẵn sàng giúp đỡ Việt Nam thực hiện hiệu quả các hoạt động này. Hai bên đánh giá cao tiến trình hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ ADMM+ và cho rằng đây là một trong những cấu trúc an ninh mới đang nổi lên và cần được tăng cường mạnh mẽ, cần hợp tác thực chất hơn và hiệu quả hơn trong tương lai.
Ngoài chương trình đối thoại, Đoàn cán bộ quân sự cấp cao của Việt Nam còn đi thăm một số căn cứ hải quân, lực lượng phòng vệ bờ biển của Mỹ./.
(TTXVN)
Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013
Mỹ gấp rút điều 60% hải quân tới củng cố 'trục châu Á'
Ông Montgomery còn cho rằng việc Mỹ mở rộng lực lượng quân sự này sẽ làm dịu đi những căng thẳng và những tranh chấp lãnh thổ trong khu vực.
Phát biểu trong cuộc phỏng vấn với AFP hôm 23/10, Montgomery nói: "Kế hoạch tái cân bằng chiến lược của Mỹ đã dẫn đến việc Mỹ tăng cường số lượng tàu tuần dương và tàu khu trục". " Có nhiều tàu hơn chúng ta sẽ có sự hiện diện rõ ràng hơn . Nó cho phép chúng ta có một lực lượng lớn mạnh hơn”.
Montgomery cho biết chiến lược châu Á không hề bị ảnh hưởng bởi việc Mỹ cắt giảm ngân sách quốc phòng và việc chính phủ Mỹ gần đây đã phải đóng cửa trong 16 ngày.
Ông khẳng định: “Chiến dịch tái cân bằng vẫn diễn ra một cách suôn sẻ. Chúng tôi có đủ ngân sách để phục vụ các hoạt động tại đây. Thực tế số lượng tàu chiến và máy bay ngày càng gia tăng ở châu Á”.
Năm ngoái, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta cho biết ở Singapore rằng, Lầu Năm Góc sẽ chuyển 60 % hải quân Mỹ tới khu vực Thái Bình Dương vào năm 2020 theo kế hoạch ‘trục châu Á’ mà Washington đã công bố .
Montgomery tiết lộ, tàu và máy bay từ San Diego, California và Trân Châu Cảng ở Hawaii sẽ được triển khai tới khu vực châu Á vào khoảng 8 tháng tới.
Montgomery cho biết sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Mỹ tại châu Á là một yếu tố giúp ổn định tình hình.
http://infonet.vn/The-gioi/My-gap-rut...
Chiến lược quân sự 'không đối xứng' của Trung Quốc
Trong khi đó, Trung Quốc không ảo tưởng về việc chuẩn bị quân sự cho cuộc chiến chống lại Mỹ vì Bắc Kinh biết rằng, mình vẫn chưa phải là đối thủ của Washington trong thời gian ít nhất là 20-30 năm nữa.
Do đó, quân đội Trung Quốc đang phát triển một loạt các chiến lược không đối xứng để ngăn chặn Mỹ cho đến lúc sức mạnh quân sự của họ có khả năng “chín” hoàn toàn khi đối đầu với Lầu Năm Góc.
Hơn mười năm trước đây, các nhà khoa học, quân sự Mỹ đã đánh giá rất cao chương trình tên lửa của Trung Quốc. Trong năm 2010, quân đội Trung Quốc thông báo rằng họ bắt đầu thử nghiệm chương trình tên lửa đạn đạo đầy tham vọng DF- 21A chống tàu sân bay. Trong năm 2013 đã có một vài báo cáo rằng các tên lửa DF- 21A đã được triển khai với số lượng nhỏ ở miền nam Trung Quốc. DF- 21A được cho là " sát thủ tàu sân bay ", nhằm hạn chế các nhóm tàu sân bay Mỹ trong trường hợp một cuộc xung đột với Đài Loan hoặc tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.
Trung Quốc quyết định sử dụng tên lửa đạn đạo chống tàu (ASBM) là bất thường, bởi vì theo các chuyên gia, phát triển và sản xuất một loại tên lửa đạn đạo phức tạp hơn nhiều so với tên lửa hành trình. Quyết định của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đặt cược vào loại vũ khí này đã phản ánh sự phát triển đầy tự tin của ngành công nghiệp quân sự trong nước. Dự án tên lửa ASBM đúng là một mối đe dọa tiềm tàng cho các lực lượng Mỹ trong khu vực và trên thế giới.
Mặt khác, Bắc Kinh biết rằng quân đội Mỹ phụ thuộc rất nhiều vào vệ tinh thông tin liên lạc để tiến hành các hoạt động quân sự nên quân đội Trung Quốc đã đầu tư một khoản tiền đáng kể cho sự phát triển vũ khí chống vệ tinh.
Đầu năm 2007, Trung Quốc phóng thành công tên lửa chống vệ tinh đầu tiên, nó đã phá hủy một vệ tinh cũ của Bắc Kinh trong không gian. Trong tháng 5 năm 2013, Trung Quốc phóng tên lửa bay tới 10 000 km vào vũ trụ, điều này cho thấy các tên lửa được thiết kế như vũ khí chống vệ tinh. Trong cả hai đợt, Mỹ đã bày tỏ quan ngại sâu sắc.
Ngoài lĩnh vực tên lửa, Trung Quốc cũng đã thử nghiệm các loại vũ khí laser. Xung laser có thể phá vỡ các vệ tinh thông tin liên lạc, tùy thuộc vào cường độ laser, thậm chí có thể tiêu diệt chúng hoàn toàn.
Chương trình tên lửa của Trung Quốc cũng đang phát triển vững chắc và những yêu cầu mới là tăng độ chính xác và phạm vi phải xa hơn nữa. Tiến bộ trong dự án tên lửa, được mong đợi để phát triển các chương trình không gian chiến lược như tham vọng thám hiểm mặt trăng và sao Hỏa của Bắc Kinh
Chiến lược quân sự không đối xứng của quân đội Trung Quốc là không giới hạn trong một lĩnh vực hẹp, mà mở rộng đến các khu vực khác – trên đất liền, trên biển, trên không, thậm chí cả trên vũ trụ.
Lấy ví dụ ở trên biển, không giống như nhiều người nghĩ, ở đây hải quân Trung Quốc không tập trung vào việc làm thế nào để dùng một tàu sân bay nhằm tiêu diệt một tàu sân bay của kẻ thù. Mà Trung Quốc triển khai một số lượng lớn các tàu ngầm tấn công với vũ khí thông thường và hạt nhân, và số lượng máy bay chiến đấu mang tên lửa và bom có thể tiêu diệt tàu sân bay cũng như tàu nổi của đối phương.
Ngoài tàu ngầm , hải quân Trung Quốc sở hữu hàng ngàn tên lửa đối không, đối đất, tên lửa hành trình và tên lửa đạn đạo. Hải quân cũng đã phát triển hàng loạt các tàu khu trục, tàu chiến mang tên lửa và tàu hộ tống có khả năng hoạt động ở cả vùng nước hẹp và các khu vực ven biển, chúng có thể rất hiệu quả với các đối thủ lớn hơn, đặc biệt là nếu sử dụng chiến thuật “bầy đàn”.
Một lĩnh vực khác được PLA đang ngày càng quan tâm là - là chiến tranh mạng . Từ năm 2000, quân đội Trung Quốc đã thảo luận về khái niệm tổng chiến tranh hoặc chiến tranh không giới hạn , trong đó quân đội Trung Quốc sẽ sử dụng chiến thuật không đối xứng trong mọi lĩnh vực.
Phổ biến nhất trong công việc của Trung Quốc liên quan đến chiến tranh không đối xứng được viết bởi hai đại tá quân đội Trung Quốc vào năm 1999 , được đặt tên là " chiến tranh không giới hạn ".
Các cuộc tấn công và xâm nhập vào các mạng máy tính nhạy cảm đối với Mỹ và các nước tiên tiến khác, điều này thể hiện sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc về loại “ vũ khí ảo” này .
Trong những năm gần đây , các cơ sở giáo dục của Trung Quốc , chẳng hạn như Học viện Khoa học Quân sự , Viện Quốc phòng và Viện Quân Sự của Hải quân dành nhiều thời gian để nghiên cứu về các chiến dịch quân sự ở phương Tây.
Mặc dù sự trung thành với chiến tranh không đối xứng của Trung Quốc không phải là mới, khái niệm này được nhanh chóng di chuyển từ lý thuyết đến thực hành, nhanh chóng trở thành phương pháp tiếp cận thống trị. Bạn không nên cho rằng quân đội Trung Quốc sẽ phải chỉ dựa trên chiến lược không đối xứng. Thực tế là Trung Quốc sẽ thu hẹp khoảng cách công nghệ, nhiều chính sách của mình để được như phổ biến.
Do trong tâm thức từ ngàn năm có thể chiến lược này sẽ vẫn chi phối. Ngược lại, Mỹ không nhìn vào chiến tranh không đối xứng và các hình thức phi tiêu chuẩn khác. Cái gọi là hành động quân sự kiểu Mỹ tập trung vào hỏa lực tấn công và bỏ qua các yếu tố phòng thủ.
Câu hỏi đặt ra là liệu Mỹ sẽ có thể đối phó với một hệ thống riêng biệt, và liệu họ sẽ có thể hiểu được bản chất của chiến lược không đối xứng trong mọi lĩnh vực của Trung Quốc. Theo ghi nhận của chuyên gia Scott Dzhaspar có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hải quân cho rằng: " sự kết hợp của tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình kết hợp với tàu ngầm và tàu khu trục mang tên lửa có thể gây tử vong cho một tàu sân bay. Một số lượng lớn các tên lửa với các biện pháp chống nhiễu sóng vô tuyến có thể vô hiệu hóa các hệ thống tiên tiến nhất của chúng tôi như Aegis ". Đó chính là điều Scott Dzhaspar muốn nói đến “ chiến lược không đối xứng” của Bắc Kinh.
Trong thực tế, vào năm 2006 chống lại Israel, Hezbollah phóng một loạt tên lửa do Trung Quốc sản xuất, kết quả là một tàu hộ tống lớp Eliat Israel bị phá hủy, giết chết bốn thủy thủ. Tàu hộ tống này được coi là tàu tiên tiến nhất trong các loại tàu hộ tống hiện có trên thế giới.
Trong khi Mỹ sẽ duy trì ưu thế quân sự của mình trong tương lai gần, Trung Quốc có cơ hội để làm suy yếu lợi thế này. Điều này có thể có một tác động tích cực cho cả hai bên, cho rằng hai siêu cường sẽ hạn chế lẫn nhau. Trung Quốc và Mỹ đã trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau và chia sẻ nhiều lợi ích. Các mối quan hệ có lợi có thể làm giảm nguy cơ xung đột. Tuy nhiên , điều đáng ghi nhớ trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới thế kỷ trước, Đức là đối tác thương mại chính của nước Anh.
TP (Theo News Land)
Ấn Độ đang "chơi bài hai mặt" ở biển Đông ?
Hành động cân bằng tinh tế của New Delhi đã được đưa vào thử nghiệm tuần này khi chuyến thăm của Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh tới Trung Quốc trùng hợp với chuyến đi của Bộ trưởng Ngoại giao Salman Khurshid đến Philippines.
Hành trình của Khurshid ở Biển Đông dường như không nổi bật so với chuyến đi đến Bắc Kinh của ông Singh - chuyến thăm nhằm làm giảm căng thẳng dọc theo biên giới Trung- Ấn cũng như tái cân bằng các mối quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, trước khi ông Singh đến Trung Quốc, Khurshid đã có một cuộc phỏng vấn với tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng của Hồng Công, trong đó ông xuất hiện để hòa giải với Trung Quốc về vấn đề tranh chấp Biển Đông.
"Chúng tôi không can thiệp" vào vấn đề tranh chấp biển Đông của Trung Quốc, Khurshid nói với tờ nhật báo Hồng Công. Ông nói thêm , "Chúng tôi tin rằng bất cứ điều gì là một vấn đề song phương giữa hai quốc gia phải được giải quyết bởi hai quốc gia".
Quan điểm này phù hợp với nhu cầu của Trung Quốc rằng tranh chấp ở Biển Đông phải được xử lý trên cơ sở song phương mà không cần bất kỳ sự can thiệp từ những bên không có tranh chấp. Trước đây, Trung Quốc đã kịch liệt chỉ trích Ấn Độ vì các hoạt động chung với Việt Nam trong vùng biển mà cả Hà Nội và Bắc Kinh cùng tuyên bố chủ quyền. Gần đây nhất là hồi đầu tháng này Thủ tướng Singh hậu thuẩn mạnh mẽ các tổ chức khu vực đóng một vai trò tích cực trong việc quản lý các tranh chấp ở biển Đông trong khi Bắc Kinh đã cố gắng để tránh đa phương hóa vấn đề. Việc Khurshid thừa nhận một cơ chế song phương dường như mâu thuẫn với phát biểu của ông Singh tại Hội nghị thượng đỉnh Đông Á tháng này.
Tuy nhiên, trong chuyến thăm Philippines trong tuần này, Khurshid đi xa hơn so những thách thức mà Ấn Độ thể hiện trước đây đối với các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Để bắt đầu, mục đích chính trong chuyến đi của ông Khurshid là để chuẩn bị cho việc nâng cấp quan hệ song phương Ấn Độ- Philippines lên tầm đối tác toàn diện khi Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee đến Philippines vào năm tới. Khurshid và người đồng cấp Philippines, Albert del Rosario, cũng nhất trí mở rộng hợp tác quốc phòng giữa hai bên. Truyền thông Philippines tuần này thậm chí còn báo cáo rằng Manila có thể mua hai tàu khu trục của Ấn Độ.
Đáng chú ý nhất có lẽ là tuyên bố chung, mà Khurshid đã ký, gọi là biển Đông là "Biển Tây Philippines"- tên gọi biển Đông mà Manila sử dụng để chỉ các vùng biển tranh chấp. Theo phương tiện truyền thông Ấn Độ, điều này đã phá vỡ chính sách thông thường của Ấn Độ là luôn đề cập đến vùng biển này với tên gọi "Biển Nam Trung Hoa" (South China Sea) nhằm tránh gây mất lòng với Bắc Kinh.
Trong chuyến thăm Philippines, Khurshid tán thành sự tham gia của các bên Đông Nam Á để giải quyết tranh chấp trong khi Bắc Kinh phản đối kịch liệt. Ví dụ, trong câu trả lời cho một câu hỏi từ các phóng viên sau một bài phát biểu ông, Khurshid "nhấn mạnh rõ ràng" rằng Ấn Độ ủng hộ sử dụng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển ( UNCLOS) là cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở biển Đông. Cuối cùng, Khurshid nói cũng hỗ trợ các quyết định của Philippines trong việc tìm kiếm tòa án quốc tế để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
"Tòa án là một câu trả lời. Tôi hy vọng nó làm việc", Khurshid nói. Trung Quốc đã bác bỏ việc đưa tranh chấp này ra tòa án quốc tế.
Cuối cùng, Khurshid đề cập trực tiếp vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với các tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Mặc dù ông làm điều đó nhằm giúp Philippines có nhiều ưu thế nếu tham gia đối thoại trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp, Bắc Kinh phản đối việc gắn liền các vụ tranh chấp lãnh thổ lại với nhau.
Các đối thủ của Trung Quốc, đặc biệt là Nhật Bản, đã cố gắng để làm chính xác điều đó.
Tác giả Zachary Keck, Tạp chí ngoại giao The Diplomat






