10/10/2012- Quân chủng Hải quân đã bế mạc Hội thi tàu tốt lần thứ 4 năm 2012. Chuẩn đô đốc Đinh Gia Thật, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Hải quân; Chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó tư lệnh Hải quân; Thiếu tướng Nguyễn Công Thành, Phó chủ nhiệm TCKT; đại diện Bộ Tư lệnh Quân khu 5, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng khu vực Đà Nẵng đã đến dự.
Thứ Tư, 10 tháng 10, 2012
Hội thi tàu tốt Quân chủng Hải quân lần thứ 4
10/10/2012- Quân chủng Hải quân đã bế mạc Hội thi tàu tốt lần thứ 4 năm 2012. Chuẩn đô đốc Đinh Gia Thật, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Hải quân; Chuẩn đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó tư lệnh Hải quân; Thiếu tướng Nguyễn Công Thành, Phó chủ nhiệm TCKT; đại diện Bộ Tư lệnh Quân khu 5, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Quân chủng khu vực Đà Nẵng đã đến dự.
Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012
Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa theo báo Nga
(Tiếng nói nước Nga - 02/10/2012) Biển Đông đã trở thành một khu vực cạnh tranh dữ dội. Trung Quốc và Việt Nam đang tranh cãi về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Còn Hoa Kỳ thì ngày càng can thiệp nhiều hơn vào cuộc tranh luận này.
Cho đến thế kỷ 16, rất nhiều những đảo nhỏ và vách đá không có người ở, mà bây giờ được gọi là quần đảo Trường Sa và Hoàng sa, hoàn toàn không được ai quan tâm. Năm 1529, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã ký hiệp ước Saragossa, phân định vùng ảnh hưởng của mình ở bán cầu Đông. Quần đảo Trường Sa nằm dưới sự kiểm soát của Tây Ban Nha. Năm 1898, theo Hiệp ước Paris, đảo này được chuyển giao cho Mỹ và sau đó là Philippines. Đối với quần đảo Hoàng Sa, cho đến giữa thế kỷ 19, phần lớn các hòn đảo của quần đảo này nằm dưới sự kiểm soát của Pháp khi đó đang chinh phục Đông Dương.
Vào thế kỷ 20, Quốc Dân Đảng Trung Quốc và Việt Nam, khi đó còn đang là thuộc địa Pháp, bắt đầu quan tâm đến các đảo của Biển Nam Trung hoa (Biển Đông). Năm 1946, Quốc dân đảng đã đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa ở nơi người Pháp không chiếm đóng. Năm 1950, một phân đội của Quân đội Giải phóng Trung Quốc thay chân Quốc Dân Đảng. Ngày 15 Tháng Tám 1951, chính phủ Trung Quốc lần đầu tiên đã chính thức tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên tất cả các đảo tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông). Tuy nhiên, sau khi Pháp rời Đông Dương vào năm 1954, quân đội “Việt Nam Cộng hòa” đã đổ bộ vào các quần đảo Hoàng Sa mà trước đó do Pháp kiểm soát. Trong gần 20 năm, một phần quần đảo Hoàng Sa do quân đội Trung Quốc chiếm đóng, còn một phần khác là do giới chức Sài gòn quản lý. Cả hai bên đều không thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để thay đổi tình hình. Năm 1974, Trung Quốc đã lợi dụng sự thất bại của Sài gòn trong cuộc chiến tranh với Hà Nội và đẩy bật quân Sài Gòn ra khỏi quần đảo Hoàng Sa. Khi đó Hà Nội đã chấp nhận mất mát vì họ quan tâm đến việc giữ quan hệ tốt với Trung Quốc, và chỉ hạn chế bằng lời kêu gọi Bắc Kinh giải quyết tất cả các vấn đề tranh chấp trên tinh thần tôn trọng, hữu nghị và quan hệ láng giềng. Hà Nội chỉ công khai yêu cầu Trung Quốc trả lại các hòn đảo tranh chấp vào cuối những năm 1970, khi phát hiện trữ lượng lớn dầu mỏ và khí đốt trên thềm lục địa.
Năm 1988, gần quần đảo Hoàng Sa đã diễn ra những cuộc đụng độ nghiêm trọng đầu tiên giữa các lực lượng hải quân hai nước, khi đó một tàu biển Việt Nam đã bị đánh chìm với toàn bộ thủy thủ đoàn trên tàu gồm 77 người. Sau vụ này Bắc Kinh đã chiếm luôn 6 hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa.
Tháng Hai năm 1992, Đại hội nhân dân toàn quốc Trung Quốc đã thông qua "Luật Lãnh hải và các khu vực xung quanh". Theo Luật này, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được tuyên bố là “một phần không tách rời của lãnh thổ Trung Quốc”. Để củng cố thêm quyền lợi của mình trong con mắt cộng đồng quốc tế, năm 1992, Bắc Kinh đã ký với công ty Mỹ "Krestoun Energy" một hợp đồng nhượng quyền, cho phép công ty này đến khu vực thềm lục địa chỉ cách bờ biển Việt Nam 250 km. Những người Mỹ đã được bảo đảm rằng để thực hiện đề án, phía Trung Quốc sẽ không từ ngay cả trường hợp phải sử dụng đến lực lượng hải quân của họ.
Để đáp lại, Quốc hội Việt Nam đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong nghị quyết về phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật Biển.
Song song đó, Hà Nội và Bắc Kinh đã có những cố gắng đàm phán để giải quyết vấn đề tranh chấp các quần đảo bằng biện pháp hòa bình. Tháng Mười năm 1993, tại Bắc Kinh, các bên đã ký kết một thỏa thuận về các nguyên tắc giải quyết các vấn đề lãnh thổ, trù định việc xem xét giải pháp về đường biên giới ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Sau đó một thời gian, báo chí Mỹ loan tin rằng Bắc Kinh và Hà Nội dường như đã đạt được thỏa thuận bằng miệng tạm hoãn vấn đề chủ quyền trên quần đảo Trường Sa trong 50 năm và trong thời gian này sẽ cùng nhau khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại đây trên cơ sở bình đẳng. Tuy nhiên, thông tin này đã bị các đại diện của Bộ Ngoại giao Việt Nam bác bỏ với tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa “thuộc về Việt Nam”.
Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng tại Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) ngày một trở nên căng thẳng. Từ năm 2009, tàu tuần duyên Trung Quốc thỉnh thoảng lại bắn vào những tàu nước ngoài đang đánh bắt cá trong vùng biển mà Bắc Kinh cho là lãnh hải của mình, đồng thời ngăn chặn những tàu đang thăm dò địa chất tại khu vực tranh chấp của thềm lục địa.
Bắt đầu từ năm 2010, tình hình ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) đã trở nên gay gắt hơn do sụ tham gia của Hoa Kỳ vào các tranh chấp lãnh thổ tại khu vực. Lo ngại về ảnh hưởng và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc, người Mỹ tuyên bố chính sách quay lại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và chuyển sang chiến thuật kiềm chế Trung Quốc. Điều này phần nào có nghĩa là những người Mỹ sẽ hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đứng về phía các đối thủ của Bắc Kinh trong những tranh chấp lãnh thổ. Năm 2011, Hoa Kỳ lần đầu tiên ký một thỏa thuận với Hà Nội về hợp tác quân sự. Mùa hè năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã thực hiện một chuyến thăm đến Việt Nam. Ông đã đi thăm căn cứ Liên Xô cũ Cam Ranh, nơi có hệ thống radar cực mạnh cho phép kiểm soát vùng Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) và căn cứ tàu ngầm hạt nhân chiến lược của Trung Quốc. Theo các chuyên gia, việc tăng cường hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt đồng nghĩa với việc người Mỹ sẽ nghiêng về hỗ trợ Hà Nội trong các tranh chấp lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Về phần mình, để khẳng định quyền của mình trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc đã thiết lập căn cứ quân sự trên đảo Udi, một trong những hòn đảo của quần đảo, và gọi tên là thành phố Tam Sa. Những động thái này đã bị phía Việt Nam kịch liệt phản đối và thúc đẩy Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra tuyên bố cáo buộc Trung Quốc trong việc “đi ngược lại những nỗ lực ngoại giao để giải quyết mâu thuẫn” và gây nguy cơ gia tăng mối căng thẳng trong khu vực. Bắc Kinh lên tiếng phản kháng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, còn các phương tiện truyền thông Trung Quốc ít ngoại giao hơn thì yêu cầu người Mỹ hãy “ngậm miệng”.
Việt Nam đang cố gắng đưa vụ tranh chấp này ra cấp độ quốc tế, trong đó có sàn ASEAN. Trung Quốc khăng khăng thảo luận tất cả các vấn đề lãnh thổ trên cơ sở song phương. Tuy nhiên chúng tôi sẽ nói về điều này trong tư liệu tiếp theo về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông).
http://vietnamese.ruvr.ru/2012_10_02/89947000/
Bài nói chuyện của Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn về biển Đông (Full)
09/10/2012- Phát biểu tại Hội nghị người Việt Nam tại nước ngoài lần 2 diễn ra tại TP HCM ngày 27 và 28 - 9 - 2012, Thiếu tướng Nguyễn Thanh Tuấn – Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam nhấn mạnh: "Chúng ta đã trang bị tàu hộ vệ tên lửa có khả năng bảo vệ cách bờ 200km trở lại, chúng ta cũng có những tên lửa có tầm bắn 600km, và cả những tên lửa nằm trong số những vũ khí hiện đại bậc nhất trên thế giới hiện nay. Chúng ta cũng mua sắm những máy bay đủ sức bảo vệ quần đảo Trường Sa cũng như Hoàng Sa".
Nguồn: Phố Bolsa TV
Nguồn: Phố Bolsa TV
Tàu Mỹ tập hợp về căn cứ khu vực Biển Đông
09/10/2012- (VnMedia) Philippines hôm qua (8/10) cho biết, một căn cứ hướng ra Biển Đông của nước này có thể đóng vai trò quan trọng như là trung tâm cho các tàu chiến Mỹ tập hợp khi Washington thực hiện kế hoạch tăng cường sự hiện diện quân sự ở Châu Á Thái Bình Dương. Căn cứ mà Manila nói đến ở đây chính là căn cứ hải quân Vịnh Subic.
Từng là căn cứ lớn nhất ở nước ngoài của quân đội Mỹ, căn cứ hải quân Vịnh Subic nằm cách thủ đô Manila khoảng 80km về phía đông bắc. Sau khi Mỹ rút khỏi căn cứ này năm 1992, nó đã được chuyển đổi thành một cảng tự do và một khu du lịch.
Tuy nhiên, một quan chức cấp cao Philippines hôm qua tuyên bố, với việc Mỹ đang có kế hoạch đưa một lượng lớn hạm đội tàu chiến của nước này đến Thái Bình Dương vào năm 2020 nhằm thực hiện mục tiêu hướng vào Châu Á, cường quốc quân sự số 1 thế giới sẽ cần đến những vịnh nước sâu tự nhiên cho những chiếc tàu chiến và tàu ngầm của họ.
"Dựa vào thông báo chính thức của Mỹ, sẽ có một sự tái điều chỉnh chiến lược và điều đó có nghĩa là, Mỹ sẽ đưa nhiều khí tài và nhiều máy bay hơn đến Tây Thái Bình Dương. Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược của mình, căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng bởi nó là một trong những cơ sở then chốt có thể phục vụ cho sự hiện diện của Mỹ ở Thái Bình Dương", ông Edilberto Adan, một cựu tướng quân đội và đang đứng đầu Ủy ban Hiệp định Thăm viếng Quân sự (VFA) của Philippines, cho biết.
Theo ông Adan, căn cứ Subic có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của hải quân Mỹ cần.
Những phát biểu mang đầy tính gợi ý trên được ông Adan đưa ra ngay trên tàu USS Bonhomme Richard của Mỹ. Chiếc tàu đổ bộ tấn công của Hải quân Mỹ này đang có mặt tại vịnh Subic để tham gia cuộc tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.
Subic cùng với căn cứ không quân Clack gần đó từng là những cơ sở quan trọng có tính then chốt của Mỹ trong khu vực. Căn cứ Clark bị đóng cửa năm 1991 sau khi Núi lửa Pinatubo gần đó phun trào, biến căn cứ này thành tro và không còn có thể sử dụng được nữa.
Căn cứ Subic ở phía bắc thành phố Olangapo và hướng ra Biển Đông không bị hề hấn gì trong vụ núi lửa phun trào. Tuy nhiên, trước tinh thần dân tộc trỗi lên mạnh mẽ và làn sóng biểu tình đòi Mỹ rút khỏi Philippines, Thượng viện nước này năm 1992 đã bỏ phiếu chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic. Tháng 11/992, các tàu của Mỹ lần lượt rời khỏi Subic.
Tuy nhiên, đến năm 1999, Philippines lại thông qua một thỏa thuận về các chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ và cho phép hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung quy mô lớn. Từ đó, tàu chiến Mỹ thường xuyên đến Philippines và quân đội Mỹ hàng năm tham gia vài cuộc tập trận chung khác nhau với Philippines.
Ông Adan – người phụ trách ủy ban chịu trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung giữa Mỹ với Philippines, cho biết, việc Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở Philippines có thể giúp bảo vệ các vùng lãnh hải xung quanh.
"Mối quan ngại của chúng tôi và của tất cả mọi người trong khu vực là về sự tự do hàng hải, về việc đảm bảo sao cho các hoạt động giao thương và các tuyến đường biển không bị cản trở”, ông Adan nói thêm.
Dù không nói ra nhưng việc Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ vào căn cứ Subic chủ yếu là nhằm đối phó với Trung Quốc. Động thái này diễn ra sau khi Philippines và nước láng giềng khổng lồ có cuộc đối đầu kéo dài và căng thẳng vì tranh chấp bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.
Mỹ, Philippines tập trận chung nhằm vào Trung Quốc?
Trong một diễn biến liên quan, Mỹ và Philippines hôm qua vừa khai hỏa một cuộc tập trận ở căn cứ Subic. Tuy nhiên, một quan chức quân sự hàng đầu của Philippines khẳng định, cuộc tập trận này không liên quan gì đến cuộc tranh chấp lãnh thổ hiện nay giữa họ với nước láng giềng Trung Quốc ở Biển Đông.
Các quan chức từ lực lượng vũ trang hai nước Mỹ, Philippines đã tham dự lễ khởi động cuộc Tập trận Đổ bộ Mỹ-Philippines (Phiblex) 2013 kéo dài 10 ngày trên một tàu chiến của Mỹ. Đó là tàu USS Bonhomme Richard. Con tàu này đang đậu gần với tàu ngầm USS Olympia của Mỹ và cả hai tàu đang tham gia cuộc tập trận Phiblex cùng với những tàu khác của cả hai nước.
Phó Đô đốc Alexander Pama, sĩ quan chỉ huy của lực lượng Hải quân Philippines cho biết, cuộc tập trận chung lần này với Mỹ là nhằm để “nâng cao khả năng tương tác giữa lực lượng hai nước”.
Khi được hỏi, cuộc tập trận đang diễn ra có liên quan gì đến các cuộc tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, ông Pama đã trả lời: “Điều này sẽ cần phải được chuẩn bị nhiều hơn và chúng tôi sẽ phải phối hợp với nhau nhiều hơn nhưng kịch bản đó không có trong kế hoạch tập trận lần này của chúng tôi”.
Phó Đô đốc Pama khẳng định, cuộc tập trận Phiblex là một “sự kiện thường niên và không phải là một hành động đáp trả trực tiếp nhằm vào mối đe dọa Trung Quốc đang hiển hiện ở Biển Đông”.
Về phía mình, người chỉ huy cuộc tập trận bên phía Mỹ - Thiếu tướng Craig Timberlake cho biết, cuộc tập trận Phiblex là nhằm nâng cao năng lực của quân đội Mỹ, Philippines đồng thời củng cố mối quan hệ giữa hai nước.
Theo ông Timberlake, Philippines là “đồng minh lâu đời nhất và thân thiết nhất” của Mỹ và hai bên cùng chia sẻ một lịch sử chung. Ông Timberlake nhấn mạnh, hai nước Mỹ, Philippines đã cùng chiến đấu bên cạnh nhau trong thế chiến II.
VnMedia
Từng là căn cứ lớn nhất ở nước ngoài của quân đội Mỹ, căn cứ hải quân Vịnh Subic nằm cách thủ đô Manila khoảng 80km về phía đông bắc. Sau khi Mỹ rút khỏi căn cứ này năm 1992, nó đã được chuyển đổi thành một cảng tự do và một khu du lịch.
Tuy nhiên, một quan chức cấp cao Philippines hôm qua tuyên bố, với việc Mỹ đang có kế hoạch đưa một lượng lớn hạm đội tàu chiến của nước này đến Thái Bình Dương vào năm 2020 nhằm thực hiện mục tiêu hướng vào Châu Á, cường quốc quân sự số 1 thế giới sẽ cần đến những vịnh nước sâu tự nhiên cho những chiếc tàu chiến và tàu ngầm của họ.
"Dựa vào thông báo chính thức của Mỹ, sẽ có một sự tái điều chỉnh chiến lược và điều đó có nghĩa là, Mỹ sẽ đưa nhiều khí tài và nhiều máy bay hơn đến Tây Thái Bình Dương. Khi Mỹ bắt đầu thực hiện chiến lược của mình, căn cứ Subic sẽ đóng một vai trò quan trọng bởi nó là một trong những cơ sở then chốt có thể phục vụ cho sự hiện diện của Mỹ ở Thái Bình Dương", ông Edilberto Adan, một cựu tướng quân đội và đang đứng đầu Ủy ban Hiệp định Thăm viếng Quân sự (VFA) của Philippines, cho biết.
Theo ông Adan, căn cứ Subic có thể cung cấp những dịch vụ mà tàu chiến hoặc máy bay của hải quân Mỹ cần.
Những phát biểu mang đầy tính gợi ý trên được ông Adan đưa ra ngay trên tàu USS Bonhomme Richard của Mỹ. Chiếc tàu đổ bộ tấn công của Hải quân Mỹ này đang có mặt tại vịnh Subic để tham gia cuộc tập trận chung kéo dài 10 ngày với các lực lượng Philippines.
Subic cùng với căn cứ không quân Clack gần đó từng là những cơ sở quan trọng có tính then chốt của Mỹ trong khu vực. Căn cứ Clark bị đóng cửa năm 1991 sau khi Núi lửa Pinatubo gần đó phun trào, biến căn cứ này thành tro và không còn có thể sử dụng được nữa.
Căn cứ Subic ở phía bắc thành phố Olangapo và hướng ra Biển Đông không bị hề hấn gì trong vụ núi lửa phun trào. Tuy nhiên, trước tinh thần dân tộc trỗi lên mạnh mẽ và làn sóng biểu tình đòi Mỹ rút khỏi Philippines, Thượng viện nước này năm 1992 đã bỏ phiếu chấm dứt hợp đồng cho Mỹ thuê căn cứ Subic. Tháng 11/992, các tàu của Mỹ lần lượt rời khỏi Subic.
Tuy nhiên, đến năm 1999, Philippines lại thông qua một thỏa thuận về các chuyến viếng thăm quân sự với Mỹ và cho phép hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung quy mô lớn. Từ đó, tàu chiến Mỹ thường xuyên đến Philippines và quân đội Mỹ hàng năm tham gia vài cuộc tập trận chung khác nhau với Philippines.
Ông Adan – người phụ trách ủy ban chịu trách nhiệm giám sát các cuộc tập trận chung giữa Mỹ với Philippines, cho biết, việc Mỹ tăng cường sự hiện diện quân sự ở Philippines có thể giúp bảo vệ các vùng lãnh hải xung quanh.
"Mối quan ngại của chúng tôi và của tất cả mọi người trong khu vực là về sự tự do hàng hải, về việc đảm bảo sao cho các hoạt động giao thương và các tuyến đường biển không bị cản trở”, ông Adan nói thêm.
Dù không nói ra nhưng việc Philippines mở rộng cửa đón tàu chiến Mỹ vào căn cứ Subic chủ yếu là nhằm đối phó với Trung Quốc. Động thái này diễn ra sau khi Philippines và nước láng giềng khổng lồ có cuộc đối đầu kéo dài và căng thẳng vì tranh chấp bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.
Mỹ, Philippines tập trận chung nhằm vào Trung Quốc?
Trong một diễn biến liên quan, Mỹ và Philippines hôm qua vừa khai hỏa một cuộc tập trận ở căn cứ Subic. Tuy nhiên, một quan chức quân sự hàng đầu của Philippines khẳng định, cuộc tập trận này không liên quan gì đến cuộc tranh chấp lãnh thổ hiện nay giữa họ với nước láng giềng Trung Quốc ở Biển Đông.
Các quan chức từ lực lượng vũ trang hai nước Mỹ, Philippines đã tham dự lễ khởi động cuộc Tập trận Đổ bộ Mỹ-Philippines (Phiblex) 2013 kéo dài 10 ngày trên một tàu chiến của Mỹ. Đó là tàu USS Bonhomme Richard. Con tàu này đang đậu gần với tàu ngầm USS Olympia của Mỹ và cả hai tàu đang tham gia cuộc tập trận Phiblex cùng với những tàu khác của cả hai nước.
Phó Đô đốc Alexander Pama, sĩ quan chỉ huy của lực lượng Hải quân Philippines cho biết, cuộc tập trận chung lần này với Mỹ là nhằm để “nâng cao khả năng tương tác giữa lực lượng hai nước”.
Khi được hỏi, cuộc tập trận đang diễn ra có liên quan gì đến các cuộc tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông, ông Pama đã trả lời: “Điều này sẽ cần phải được chuẩn bị nhiều hơn và chúng tôi sẽ phải phối hợp với nhau nhiều hơn nhưng kịch bản đó không có trong kế hoạch tập trận lần này của chúng tôi”.
Phó Đô đốc Pama khẳng định, cuộc tập trận Phiblex là một “sự kiện thường niên và không phải là một hành động đáp trả trực tiếp nhằm vào mối đe dọa Trung Quốc đang hiển hiện ở Biển Đông”.
Về phía mình, người chỉ huy cuộc tập trận bên phía Mỹ - Thiếu tướng Craig Timberlake cho biết, cuộc tập trận Phiblex là nhằm nâng cao năng lực của quân đội Mỹ, Philippines đồng thời củng cố mối quan hệ giữa hai nước.
Theo ông Timberlake, Philippines là “đồng minh lâu đời nhất và thân thiết nhất” của Mỹ và hai bên cùng chia sẻ một lịch sử chung. Ông Timberlake nhấn mạnh, hai nước Mỹ, Philippines đã cùng chiến đấu bên cạnh nhau trong thế chiến II.
VnMedia
Việt Nam tự đóng mới tàu tên lửa hiện đại
09/10/2012- Quân chủng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã ký hợp đồng với nhà máy Hồng Hà Ba Son để đóng mới 2 lớp tàu pháo TT400TP và tàu tên lửa project 12418.
Sáng 8/10, tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã tổ chức ký hợp đồng với Công ty đóng tàu Hồng Hà và Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đóng mới 2 lớp tàu chiến đấu hiện đại là tàu pháo TT400TP và tàu tên lửa hiện đại project 12418.
Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân (đại diện Chủ đầu tư) đã ký hợp đồng với đại diên các đơn vị đóng tàu của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Hai lớp tàu chiến đấu trên nằm trong chương trình trang bị tiếp theo cho Quân chủng Hải quân để nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần xây dựng Quân chủng Hải quân tiến lên cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.
Tàu pháo TT400TP và tàu project 12418 được mua thiết kế và chuyển giao công nghệ triển khai đóng thành công tại Công ty đóng tàu Hồng Hà và XNLH Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).
Trong đó, tàu cao tốc tên lửa project 12418 do Nga thiết kế để tiêu diệt tất cả mục tiêu trên biển (tàu chiến, tàu đổ bộ đối phương), tham gia nhiệm vụ tuần tra, hộ tống. Hỏa lực của project 12418 có thể đánh chìm tàu chiến lớn hơn nó gấp nhiều lần.
Tàu có lượng giãn nước hơn 500 tấn, dài khoảng 56m, thủy thủ đoàn 50 người. Project 12418 trang bị: pháo hạm AK-176, 16 tên lửa hành trình đối hạm Kh-35 Uran (tầm bắn 130km), 2 tổ hợp pháo phòng không bắn nhanh Ak-630 và tên lửa đối không tầm thấp.
Quân đội Nhân dân
Sáng 8/10, tại Hải Phòng, Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân đã tổ chức ký hợp đồng với Công ty đóng tàu Hồng Hà và Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đóng mới 2 lớp tàu chiến đấu hiện đại là tàu pháo TT400TP và tàu tên lửa hiện đại project 12418.
Chuẩn Đô đốc Nguyễn Văn Ninh, Phó Tư lệnh Quân chủng Hải quân (đại diện Chủ đầu tư) đã ký hợp đồng với đại diên các đơn vị đóng tàu của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng.
Hai lớp tàu chiến đấu trên nằm trong chương trình trang bị tiếp theo cho Quân chủng Hải quân để nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ chủ quyền biển đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần xây dựng Quân chủng Hải quân tiến lên cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.
Tàu pháo TT400TP và tàu project 12418 được mua thiết kế và chuyển giao công nghệ triển khai đóng thành công tại Công ty đóng tàu Hồng Hà và XNLH Ba Son (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).
Trong đó, tàu cao tốc tên lửa project 12418 do Nga thiết kế để tiêu diệt tất cả mục tiêu trên biển (tàu chiến, tàu đổ bộ đối phương), tham gia nhiệm vụ tuần tra, hộ tống. Hỏa lực của project 12418 có thể đánh chìm tàu chiến lớn hơn nó gấp nhiều lần.
Tàu có lượng giãn nước hơn 500 tấn, dài khoảng 56m, thủy thủ đoàn 50 người. Project 12418 trang bị: pháo hạm AK-176, 16 tên lửa hành trình đối hạm Kh-35 Uran (tầm bắn 130km), 2 tổ hợp pháo phòng không bắn nhanh Ak-630 và tên lửa đối không tầm thấp.
Quân đội Nhân dân
Đông Nam Á đua nhau trang bị vũ khí cho hải quân
08/10/2012- (Reuters)- Một số quốc gia trong khối ASEAN đang gia tăng mua thiết bị quân sự cho hải quân của họ, trong lúc tranh chấp ở biển Ðông ngày càng căng thẳng.

Tàu ngầm lớp Kilo của Nga là loại được Việt Nam ưa chuộng. Việt Nam đặt mua của Nga sáu chiếc tàu này. (Hình: AFP Photo/Goh Chai Hin)
Indonesia mua tàu ngầm của Nam Hàn và hệ thống radar bảo vệ bờ biển của Trung Quốc và Mỹ. Việt Nam thì mua tàu ngầm và chiến đấu cơ của Nga. Trong khi đó, Singapore, quốc gia nhập cảng vũ khí lớn hàng thứ năm trên thế giới, cũng đang mua thêm một số thiết bị quân sự.
Lo ngại thành công kinh tế của Trung Quốc sẽ là đe dọa cho khu vực, các quốc gia Ðông Nam Á này đang chi những khoản tiền lớn để mua vũ khí, nhằm bảo vệ đường hàng hải, hải cảng và lãnh hải của mình, rất quan trọng trong việc xuất cảng, cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tranh chấp chủ quyền trên biển Ðông cũng làm cho Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của Hải Quân Trung Quốc.
Ngoài ra, an ninh lãnh hải trên biển Ðông cũng quan trọng và là trọng tâm của Indonesia, Thái Lan và Singapore.
“Phát triển kinh tế làm cho họ phải chi tiền cho quốc phòng, để bảo vệ các nguồn đầu tư, các tuyến đường hàng hải và các khu đặc quyền khai thác kinh tế,” ông James Hardy, một chủ biên của tạp chí quốc phòng IHS Jane's Defence Weekly, nói. “Khuynh hướng lớn nhất hiện nay là tuần tra bờ biển và lãnh hải.”
Trong khi kinh tế các quốc gia Ðông Nam Á tăng trưởng, ngân sách quốc phòng của họ cũng tăng theo, 42% trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2011, dữ liệu của “Stockholm International Peace Research Institute” (SIPRI) cho thấy.
Món hàng quân sự được các quốc gia này mua nhiều nhất là tàu chiến, tàu tuần, hệ thống radar, máy bay chiến đấu, cùng với tàu ngầm và hỏa tiễn chống tàu chiến.
“Tàu ngầm đóng vai trò rất lớn,” ông Tim Huxley, giám đốc điều hành trung tâm “International Institute for Strategic Studies” (IISS) nói. “Tàu ngầm có thể gây tác hại lớn mà không ai thấy được nó, không ai biết nó từ đâu tới, và tàu ngầm có thể làm được nhiều thứ trong đại dương.” (Ð.D.)
---

Tàu ngầm lớp Kilo của Nga là loại được Việt Nam ưa chuộng. Việt Nam đặt mua của Nga sáu chiếc tàu này. (Hình: AFP Photo/Goh Chai Hin)
Indonesia mua tàu ngầm của Nam Hàn và hệ thống radar bảo vệ bờ biển của Trung Quốc và Mỹ. Việt Nam thì mua tàu ngầm và chiến đấu cơ của Nga. Trong khi đó, Singapore, quốc gia nhập cảng vũ khí lớn hàng thứ năm trên thế giới, cũng đang mua thêm một số thiết bị quân sự.
Lo ngại thành công kinh tế của Trung Quốc sẽ là đe dọa cho khu vực, các quốc gia Ðông Nam Á này đang chi những khoản tiền lớn để mua vũ khí, nhằm bảo vệ đường hàng hải, hải cảng và lãnh hải của mình, rất quan trọng trong việc xuất cảng, cũng như bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tranh chấp chủ quyền trên biển Ðông cũng làm cho Việt Nam, Malaysia, Philippines và Brunei tìm cách ngăn chặn sự bành trướng của Hải Quân Trung Quốc.
Ngoài ra, an ninh lãnh hải trên biển Ðông cũng quan trọng và là trọng tâm của Indonesia, Thái Lan và Singapore.
“Phát triển kinh tế làm cho họ phải chi tiền cho quốc phòng, để bảo vệ các nguồn đầu tư, các tuyến đường hàng hải và các khu đặc quyền khai thác kinh tế,” ông James Hardy, một chủ biên của tạp chí quốc phòng IHS Jane's Defence Weekly, nói. “Khuynh hướng lớn nhất hiện nay là tuần tra bờ biển và lãnh hải.”
Trong khi kinh tế các quốc gia Ðông Nam Á tăng trưởng, ngân sách quốc phòng của họ cũng tăng theo, 42% trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2011, dữ liệu của “Stockholm International Peace Research Institute” (SIPRI) cho thấy.
Món hàng quân sự được các quốc gia này mua nhiều nhất là tàu chiến, tàu tuần, hệ thống radar, máy bay chiến đấu, cùng với tàu ngầm và hỏa tiễn chống tàu chiến.
“Tàu ngầm đóng vai trò rất lớn,” ông Tim Huxley, giám đốc điều hành trung tâm “International Institute for Strategic Studies” (IISS) nói. “Tàu ngầm có thể gây tác hại lớn mà không ai thấy được nó, không ai biết nó từ đâu tới, và tàu ngầm có thể làm được nhiều thứ trong đại dương.” (Ð.D.)
---
Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012
Malaysia bán trang bị quốc phòng ở Việt Nam
07/10/2012- Trang tin quốc phòng Malaysia Flying Herald cho biết, Matrade - Cục Phát triển Ngoại thương Malaysia - hy vọng sẽ bán được các trang thiết bị quốc phòng trị giá 761 triệu Rm (khoảng 230,5 triệu USD) ở Việt Nam và Campuchia.
Malaysia đã cử một Phái đoàn Chuyên gia Tiếp thị (SMM) công tác tại Phnom Penh và Hà Nội trong thời gian 6 ngày từ 10 - 15/9/2012.
MATRADE cho biết doanh số bán hàng tiềm năng ở Campuchia là 629,5 triệu Rm trong khi ở Việt Nam là 141,5 triệu Rm (khoảng 42,85 triệu USD).
Tại Việt Nam, đoàn đã gặp gỡ với các bộ phận đối ngoại chịu trách nhiệm về công nghiệp quốc phòng Việt Nam, và thăm hai công ty liên kết của chính phủ Việt Nam là hai trong năm cơ quan được phép kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ an ninh -quốc phòng cho chính phủ Việt Nam.
Một cuộc hội thảo về mua bán công nghệ và thiết bị quốc phòng của Malaysia cũng đã được tổ chức ở cả hai thành phố (Phnom Penh và Hà Nội).
Matrade nói rằng, dù gặp phải một số khó khăn trong việc kinh doanh ở hai nước nhưng đã hoàn thành thành công nghiệm vụ trong việc doanh số bán hàng tiềm năng của họ, bao gồm máy bay không người lái, xuồng cao tốc, phương tiện cứu hộ chuyên dụng, thiết bị huấn luyện mô phỏng và phần mềm, hệ thống thông tin và chỉ huy cũng như dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa quân sự.
Matrade đang sắp xếp lịch để mời các quan chức hai nước này tới thăm các cơ sở sản xuất của họ ở Malaysia.

Malaysia có chuyên môn và kinh nghiệm trong các dịch vụ MRO (maintenance, repair, and Overhaul - Bảo trì, sửa chữa và đại tu) cho Mig-29N/NUB và Su-30. Việt Nam và Campuchia là hai nước đang khai thác máy bay chiến đấu Nga.
Theo Malasia Flying Herald
Malaysia đã cử một Phái đoàn Chuyên gia Tiếp thị (SMM) công tác tại Phnom Penh và Hà Nội trong thời gian 6 ngày từ 10 - 15/9/2012.
MATRADE cho biết doanh số bán hàng tiềm năng ở Campuchia là 629,5 triệu Rm trong khi ở Việt Nam là 141,5 triệu Rm (khoảng 42,85 triệu USD).
Tại Việt Nam, đoàn đã gặp gỡ với các bộ phận đối ngoại chịu trách nhiệm về công nghiệp quốc phòng Việt Nam, và thăm hai công ty liên kết của chính phủ Việt Nam là hai trong năm cơ quan được phép kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ an ninh -quốc phòng cho chính phủ Việt Nam.
Một cuộc hội thảo về mua bán công nghệ và thiết bị quốc phòng của Malaysia cũng đã được tổ chức ở cả hai thành phố (Phnom Penh và Hà Nội).
Matrade nói rằng, dù gặp phải một số khó khăn trong việc kinh doanh ở hai nước nhưng đã hoàn thành thành công nghiệm vụ trong việc doanh số bán hàng tiềm năng của họ, bao gồm máy bay không người lái, xuồng cao tốc, phương tiện cứu hộ chuyên dụng, thiết bị huấn luyện mô phỏng và phần mềm, hệ thống thông tin và chỉ huy cũng như dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa quân sự.
Matrade đang sắp xếp lịch để mời các quan chức hai nước này tới thăm các cơ sở sản xuất của họ ở Malaysia.

Malaysia có chuyên môn và kinh nghiệm trong các dịch vụ MRO (maintenance, repair, and Overhaul - Bảo trì, sửa chữa và đại tu) cho Mig-29N/NUB và Su-30. Việt Nam và Campuchia là hai nước đang khai thác máy bay chiến đấu Nga.
Theo Malasia Flying Herald
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






