24/11/2012- Tập đoàn dầu lửa và khí đốt lớn nhất Thái Lan đang xem xét tới việc xây dựng ở miền trung Việt Nam một nhà máy lọc dầu mà nếu được hoàn tất sẽ đánh dấu một bước quan trọng trong việc khuyếch trương cơ sở công nghiệp của Việt Nam.
Bản tin hôm thứ 6 của Dow Jones cho biết tập đoàn PTT định xây tại Khu Kinh tế Nhơn Hội ở tỉnh Bình Định một nhà máy có công suất 660.000 thùng mỗi ngày với kinh phí lên tới 28,7 tỉ đô la.
Ông Lê Hữu Lộc, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định, hôm thứ 6 nói rằng công tác xây dựng có thể bắt đầu vào năm 2016 và nhà máy sẽ đi vào hoạt động vào năm 2019.
Ông Nattachat Charuchinda, một giới chức cấp cao của PTT, xác nhận công ty ông đã trình bày kết quả nghiên cứu tiền khả thi cho các giới chức tỉnh Bình Định. Ông Nattachat không chịu xác nhận kinh phí của dự án nhưng cho biết công suất của nhà máy mà phía Việt Nam đưa ra là chính xác. Ông cũng nói rằng dầu thô sẽ được nhập từ Trung Đông.
Theo nhận xét của Dow Jones, dự án lọc dầu khổng lồ này sẽ mang lại cho Việt Nam một lực đẩy mà Việt Nam rất cần trong lúc các nhà đầu tư quốc tế đang dần dần giảm đầu tư vào quốc gia Đông Nam Á này trong những năm gần đây. Theo dự báo, kinh tế Việt Nam trong năm nay sẽ tăng trưởng với tỉ lệ thấp nhất trong vòng 13 năm.
Việt Nam hiện nay chỉ có một nhà máy lọc dầu duy nhất là nhà máy Dung Quất ở Quảng Ngãi. Nhà máy này bắt đầu sản xuất vào năm 2009 và công suất hiện nay chỉ ở mức 130.000 thùng mỗi ngày, đáp ứng khoảng 1 phần 3 nhu cầu các sản phẩm dầu của Việt Nam.
Nguồn: Dow Jones/Dan Tri
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012
Thứ Năm, 22 tháng 11, 2012
Việt Nam từ bỏ giấc mộng 'cường quốc đóng tàu?'
222/11/2012- Sau vụ bê bối tham nhũng và thất thoát của tập đoàn đóng tàu Vinashin, hôm 21 tháng 11, một số chuyên viên kinh tế hô hào nhà nước Việt Nam “chớ theo đuổi mộng làm cường quốc đóng tàu.”
Báo Thanh Niên dẫn phúc trình của ông Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright ở Tp. Hồ Chí Minh nói rằng Việt Nam hầu như “trắng tay” trước một Nhật Bản, Nam Hàn và Trung Quốc.
Theo ông Tự Anh, Việt Nam không có ưu thế như Trung Quốc gồm một thị trường nội địa rộng lớn; nhân công và vật liệu rẻ. Còn đối với Nhật Bản và Nam Hàn, Việt Nam thiếu sự ủng hộ của Hoa Kỳ trong khi trình độ kỹ thuật của kỹ sư Việt Nam còn một khoảng cách rất dài so với hai quốc gia trên.
Trong khi đó, theo ông chuyên viên hàng hải Ðỗ Thanh Bình, giấc mơ đứng hàng thứ tư ngành kỹ nghệ đóng tàu thế giới, sau Nhật Bản, Nam Hàn và Trung Quốc của Việt Nam là sự “sai lầm về chiến lược.”
Ông này cũng cho rằng đó là “duy ý chí,” từ ngữ phê phán mong muốn của những người lãnh đạo Việt Nam bất chấp thực tế yếu kém của mình. Ông Bình nhận định trong phúc trình của mình, rằng “Việt Nam đừng hy vọng trở thành cường quốc đóng tàu vận tải cỡ lớn như Vinashin từng tham vọng.”
Cũng theo báo Thanh Niên, một cán bộ lãnh đạo nhà máy cán thép Cái Lân thú nhận: “Giá thành thép tấm của Việt Nam không cạnh tranh nổi với Trung Quốc, vì Việt Nam còn phải nhập cảng phôi khổ lớn của họ. Nếu cố hạ giá thép để giúp hãng đóng tàu có đơn đặt hàng thì hãng đóng tàu lại... lỗ và nhà nước không thể bù lỗ mãi được.”
Ông Ðỗ Thái Bình còn tiết lộ tin có cán bộ lãnh đạo nhà nước Việt Nam đòi giao cho Vinashin đóng tàu cá nhằm mục đích “vực dậy” thi thể của “tập đoàn” này. Theo ông, nếu giao cho Vinashin sản xuất hàng loạt tàu cá thì “Việt Nam sẽ phải trả giá cho một sai lầm thứ hai.”
Mặt khác, cũng theo báo Lao Ðộng, nhiều chuyên viên kinh tế Việt Nam cho rằng nhà nước nên để Vinashin bán 20 ha đất của nhà máy đóng tàu Bạch Ðằng ở Hải Phòng để “thu hồi vốn,” đầu tư vào các nhà máy khác.
Mọi người vẫn chưa quên vụ tham nhũng bùng nổ tại Vinashin được mổ xẻ tại phiên tòa ở Hải Phòng.
Cựu Chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị kiêm tổng giám đốc Vinashin Phạm Thanh Bình lãnh 20 năm tù giam. Bảy bị cáo còn lại lãnh án từ 10 năm cho đến 19 năm tù giam vì tội “làm trái quy định của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.” (PL)
Theo Người Việt
Báo Thanh Niên dẫn phúc trình của ông Vũ Thành Tự Anh, giám đốc nghiên cứu chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright ở Tp. Hồ Chí Minh nói rằng Việt Nam hầu như “trắng tay” trước một Nhật Bản, Nam Hàn và Trung Quốc.
Theo ông Tự Anh, Việt Nam không có ưu thế như Trung Quốc gồm một thị trường nội địa rộng lớn; nhân công và vật liệu rẻ. Còn đối với Nhật Bản và Nam Hàn, Việt Nam thiếu sự ủng hộ của Hoa Kỳ trong khi trình độ kỹ thuật của kỹ sư Việt Nam còn một khoảng cách rất dài so với hai quốc gia trên.
Trong khi đó, theo ông chuyên viên hàng hải Ðỗ Thanh Bình, giấc mơ đứng hàng thứ tư ngành kỹ nghệ đóng tàu thế giới, sau Nhật Bản, Nam Hàn và Trung Quốc của Việt Nam là sự “sai lầm về chiến lược.”
Ông này cũng cho rằng đó là “duy ý chí,” từ ngữ phê phán mong muốn của những người lãnh đạo Việt Nam bất chấp thực tế yếu kém của mình. Ông Bình nhận định trong phúc trình của mình, rằng “Việt Nam đừng hy vọng trở thành cường quốc đóng tàu vận tải cỡ lớn như Vinashin từng tham vọng.”
Cũng theo báo Thanh Niên, một cán bộ lãnh đạo nhà máy cán thép Cái Lân thú nhận: “Giá thành thép tấm của Việt Nam không cạnh tranh nổi với Trung Quốc, vì Việt Nam còn phải nhập cảng phôi khổ lớn của họ. Nếu cố hạ giá thép để giúp hãng đóng tàu có đơn đặt hàng thì hãng đóng tàu lại... lỗ và nhà nước không thể bù lỗ mãi được.”
Ông Ðỗ Thái Bình còn tiết lộ tin có cán bộ lãnh đạo nhà nước Việt Nam đòi giao cho Vinashin đóng tàu cá nhằm mục đích “vực dậy” thi thể của “tập đoàn” này. Theo ông, nếu giao cho Vinashin sản xuất hàng loạt tàu cá thì “Việt Nam sẽ phải trả giá cho một sai lầm thứ hai.”
Mặt khác, cũng theo báo Lao Ðộng, nhiều chuyên viên kinh tế Việt Nam cho rằng nhà nước nên để Vinashin bán 20 ha đất của nhà máy đóng tàu Bạch Ðằng ở Hải Phòng để “thu hồi vốn,” đầu tư vào các nhà máy khác.
Mọi người vẫn chưa quên vụ tham nhũng bùng nổ tại Vinashin được mổ xẻ tại phiên tòa ở Hải Phòng.
Cựu Chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị kiêm tổng giám đốc Vinashin Phạm Thanh Bình lãnh 20 năm tù giam. Bảy bị cáo còn lại lãnh án từ 10 năm cho đến 19 năm tù giam vì tội “làm trái quy định của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.” (PL)
Theo Người Việt
Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012
Nguy hại do lệ thuộc kinh tế Trung Quốc !
19/11/2012- (Thanh tra) - Nhiều năm qua, tình hình xuất nhập khẩu (XNK) Việt Nam luôn tồn tại nghịch lý là kim ngạch XK hàng hóa mỗi năm luôn đạt, hoặc vượt kế hoạch, nhưng kim ngạch NK cũng tăng theo XK. Do đó, Việt Nam luôn mất cân đối cán cân thương mại và nhập siêu luôn ở mức cao.
Tăng dần theo thời gian
Thực trạng này có thể nhìn từ một số mặt hàng có thế mạnh về XK như giày dép, hàng dệt may, đồ thủ công mỹ nghệ… Để đạt được con số XK ấn tượng, các ngành này phải nhập một lượng nguyên liệu vô cùng lớn, có ngành chiếm đến 80% kim ngạch XK.
Điều đáng nói là nguồn nguyên liệu hầu hết là nhập Trung Quốc. Tổng cục Thống kê cho biết, tổng kim ngạch XNK mười tháng đầu năm 2012 đạt hơn 187 tỷ USD, trong đó doanh thu XK ước đạt 93,45 tỷ USD, tăng 18,4% và doanh thu NK đạt 93,8 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy, nhập siêu mười tháng khoảng 350 triệu USD. Tuy nhiên, riêng đối với thị trường Trung Quốc, Việt Nam vẫn nhập siêu rất lớn, 10 tháng đầu năm lên khoảng 12 tỷ USD, dự báo cả năm lên tới 13 tỷ USD.
Theo thống kê, giai đoạn 2001 - 2010, nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhập siêu của các nước mà Việt Nam có nhập siêu. Đặc biệt, tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với nhập siêu hàng hoá của Việt Nam đã đạt 61,7% vào năm 2008 lên tới 154% vào năm 2010. Các chuyên gia cho rằng, nếu kéo dài tình trạng này thực sự sẽ là mối nguy cho thị trường trong nước.
Theo Bộ Công thương, Việt Nam không chỉ lệ thuộc Trung Quốc nguyên liệu các ngành dệt may, da giày, các nhóm hàng khác như linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng… cũng phải nhập số lượng lớn. Mặt khác, lâu nay, thực phẩm, hoa quả Trung Quốc, tăm xỉa răng… cứ ồ ạt đổ vào nội địa bất kể những sản phẩm này trong nước đều có thể sản xuất được.
Vẫn theo số liệu của Bộ Công thương, 10 tháng đầu năm, Việt Nam đã nhập với mức tăng đáng kể từ Trung Quốc đối với các mặt hàng mà bản thân các DN trong nước cũng chiếm lợi thế như: Nguyên phụ liệu dược phẩm (72,92%), hàng rau quả (21,24%), bánh kẹo, và các sản phẩm từ ngũ cốc (48,02%)…
Việc gia tăng NK các nguyên phụ liệu, thậm chí cả các mặt hàng tiêu dùng từ nước láng giềng cho thấy, chúng ta đang đi ngược lại với mục tiêu giảm NK từ thị trường này. Nhưng điều nguy hại là ở chỗ, việc Việt Nam quá lệ thuộc vào sản phẩm từ một nước sẽ gây những bất lợi lớn cho việc cạnh tranh giá sản phẩm.
Phân tán rủi ro
Theo số liệu của Bộ Công thương, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc trong những năm gần đây luôn ở mức trên 10 tỷ USD. Trong khi lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tăng cao, thì lượng hàng hóa nhập khẩu từ các thị trường có công nghệ cao như Nhật Bản, Mỹ, EU lại không tương xứng.
Nếu các sản phẩm nhập về chất lượng tốt, có thể phục vụ hữu ích cho sản xuất và tiêu dùng trong nước sẽ là điều bình thường. Tuy nhiên, nếu Việt Nam nhập tràn lan những sản phẩm kém chất lượng cũng như phụ thuộc vào NK một thời gian quá lâu (nhất là phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực sản xuất và XK của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, Trung Quốc liên tục trúng thầu các công trình và dự án lớn, thực hiện theo hình thức làm trọn gói từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng. Điều này dẫn đến tình trạng các công trình đều phải nhập thiết bị đầu vào từ Trung Quốc, qua đó làm tăng áp lực đối với nhập siêu.
Tại sao không NK công nghệ tiên tiến, chất lượng cao của các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản… để giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc? Câu hỏi này rất đáng để suy gẫm. Việt Nam cần thiết phải phân tán rủi ro bằng việc thay thế NK công nghệ thải loại của Trung Quốc bởi các công nghệ của các nước tiên tiến. Việc này vừa hạn chế được nhập siêu từ Trung Quốc, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa.
Một bài học lớn từ kinh tế là cần đa dạng hóa thị trường nhằm phân tán rủi ro. Do vậy, khi phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc sẽ tạo ra nguy hiểm là hàng hóa thực phẩm giá rẻ tràn vào, nhưng lại không được kiểm soát tốt về chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Mặt khác, những sản phẩm, nguyên liệu đến từ Trung Quốc lâu nay vẫn được coi là hàng kém chất lượng. Đặc biệt, nguy cơ Việt Nam trở thành bãi chứa đồ thải của Trung Quốc là rất lớn, nếu cứ tiếp tục dễ dãi cho các hàng hóa lạc hậu, kém chất lượng chảy về trong nước.
Nguồn: Thanhtra.com.vn
Tăng dần theo thời gian
Thực trạng này có thể nhìn từ một số mặt hàng có thế mạnh về XK như giày dép, hàng dệt may, đồ thủ công mỹ nghệ… Để đạt được con số XK ấn tượng, các ngành này phải nhập một lượng nguyên liệu vô cùng lớn, có ngành chiếm đến 80% kim ngạch XK.
Điều đáng nói là nguồn nguyên liệu hầu hết là nhập Trung Quốc. Tổng cục Thống kê cho biết, tổng kim ngạch XNK mười tháng đầu năm 2012 đạt hơn 187 tỷ USD, trong đó doanh thu XK ước đạt 93,45 tỷ USD, tăng 18,4% và doanh thu NK đạt 93,8 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy, nhập siêu mười tháng khoảng 350 triệu USD. Tuy nhiên, riêng đối với thị trường Trung Quốc, Việt Nam vẫn nhập siêu rất lớn, 10 tháng đầu năm lên khoảng 12 tỷ USD, dự báo cả năm lên tới 13 tỷ USD.
Theo thống kê, giai đoạn 2001 - 2010, nhập siêu từ Trung Quốc là lớn nhất, chiếm 23,2% trong tổng nhập siêu của các nước mà Việt Nam có nhập siêu. Đặc biệt, tỷ lệ nhập siêu từ Trung Quốc so với nhập siêu hàng hoá của Việt Nam đã đạt 61,7% vào năm 2008 lên tới 154% vào năm 2010. Các chuyên gia cho rằng, nếu kéo dài tình trạng này thực sự sẽ là mối nguy cho thị trường trong nước.
Theo Bộ Công thương, Việt Nam không chỉ lệ thuộc Trung Quốc nguyên liệu các ngành dệt may, da giày, các nhóm hàng khác như linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng… cũng phải nhập số lượng lớn. Mặt khác, lâu nay, thực phẩm, hoa quả Trung Quốc, tăm xỉa răng… cứ ồ ạt đổ vào nội địa bất kể những sản phẩm này trong nước đều có thể sản xuất được.
“Điều nguy hại là ở chỗ, việc Việt Nam quá lệ thuộc vào sản phẩm từ một nước sẽ gây những bất lợi lớn cho việc cạnh tranh giá sản phẩm...” | ||
Việc gia tăng NK các nguyên phụ liệu, thậm chí cả các mặt hàng tiêu dùng từ nước láng giềng cho thấy, chúng ta đang đi ngược lại với mục tiêu giảm NK từ thị trường này. Nhưng điều nguy hại là ở chỗ, việc Việt Nam quá lệ thuộc vào sản phẩm từ một nước sẽ gây những bất lợi lớn cho việc cạnh tranh giá sản phẩm.
Phân tán rủi ro
Theo số liệu của Bộ Công thương, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc trong những năm gần đây luôn ở mức trên 10 tỷ USD. Trong khi lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tăng cao, thì lượng hàng hóa nhập khẩu từ các thị trường có công nghệ cao như Nhật Bản, Mỹ, EU lại không tương xứng.
Nếu các sản phẩm nhập về chất lượng tốt, có thể phục vụ hữu ích cho sản xuất và tiêu dùng trong nước sẽ là điều bình thường. Tuy nhiên, nếu Việt Nam nhập tràn lan những sản phẩm kém chất lượng cũng như phụ thuộc vào NK một thời gian quá lâu (nhất là phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc) sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực sản xuất và XK của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy, những năm gần đây, Trung Quốc liên tục trúng thầu các công trình và dự án lớn, thực hiện theo hình thức làm trọn gói từ khâu thiết kế, mua sắm thiết bị đến xây dựng. Điều này dẫn đến tình trạng các công trình đều phải nhập thiết bị đầu vào từ Trung Quốc, qua đó làm tăng áp lực đối với nhập siêu.
Tại sao không NK công nghệ tiên tiến, chất lượng cao của các thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản… để giảm thiểu nhập siêu từ Trung Quốc? Câu hỏi này rất đáng để suy gẫm. Việt Nam cần thiết phải phân tán rủi ro bằng việc thay thế NK công nghệ thải loại của Trung Quốc bởi các công nghệ của các nước tiên tiến. Việc này vừa hạn chế được nhập siêu từ Trung Quốc, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hóa.
Một bài học lớn từ kinh tế là cần đa dạng hóa thị trường nhằm phân tán rủi ro. Do vậy, khi phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc sẽ tạo ra nguy hiểm là hàng hóa thực phẩm giá rẻ tràn vào, nhưng lại không được kiểm soát tốt về chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Mặt khác, những sản phẩm, nguyên liệu đến từ Trung Quốc lâu nay vẫn được coi là hàng kém chất lượng. Đặc biệt, nguy cơ Việt Nam trở thành bãi chứa đồ thải của Trung Quốc là rất lớn, nếu cứ tiếp tục dễ dãi cho các hàng hóa lạc hậu, kém chất lượng chảy về trong nước.
Nguồn: Thanhtra.com.vn
Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012
Tại sao đường sắt Trung Quốc là bẫy chiến lược với ASEAN?
16/9/12- Giới chuyên gia cảnh báo tuyến đường sắt xuyên Á nối liền các nước ASEAN - Trung Quốc là bẫy chiến lược Bắc Kinh giăng ra với ASEAN
Các chuyên viên xây dựng Trung Quốc đã hoàn thành lắp đặt đoạn cuối cùng của tuyến đường sắt Yuisi-Mentszy ở tỉnh Vân Nam phía Tây nam Trung Quốc. Đoạn đường này sẽ trở thành một phần của tuyến đường sắt Xuyên Á nối liền các nước ASEAN.
Công trình xây dựng tiêu tốn tới 4,5 tỷ nhân dân tệ (707 triệu USD) do con đường trải ra ở vùng địa hình phức tạp. Tại cung đường cây số 141, đường sắt chạy qua 35 hầm và 61 cầu. Phía Trung Quốc tuyên bố khoản chi phí đầu tư như vậy là xứng đáng. Theo Thứ trưởng Bộ Đường sắt Lu Dunphu, tuyến đường sắt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vùng Tây Nam Trung Quốc, giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội trong khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số.
Trong khi đó, giới chuyên viên cho rằng, động lực chính của công trình chính trên là Trung Quốc mong muốn tăng cường ảnh hưởng của họ tại khu vực Đông Nam Á. Phần tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng mạng lưới đường sắt chỉ là một trong nhiều đề án mà Bắc Kinh thực hiện những năm gần đây trong khuôn khổ hợp tác với ASEAN. Sau khi khai thông tất cả các phần của tuyến đường sắt Xuyên Á, đi từ thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam đến Singapore chỉ mất 10 giờ. Hiện tại đi xe lửa từ Singapore sang thủ đô Viêng Chăn của Lào mất 3 ngày đêm. Từ Viêng Chăn đến Côn Minh hiện chưa có đường sắt, nhưng không nghi ngờ gì, cung đường này rồi sẽ được lắp đặt. Tất nhiên là với sự tham gia của các nhà đầu tư Trung Quốc.
Chuyên viên của Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế (Viện Hàn lâm khoa học Nga), Giáo sư Evgeni Kanaev, nhận xét: “Trung Quốc đang tích cực bỏ vốn đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Những đề án này mang cả tính quốc tế. Tuy nhiên, điều có thể thành cái bẫy chiến lược đối với các quốc gia Đông Nam Á là chuyện Trung Quốc sẽ ràng buộc các quốc gia này, không chỉ vào nhau, mà còn vào các tỉnh Vân Nam và khu tự trị Choang-Quảng Tây của Trung Quốc".
Theo nhận định của các chuyên viên, tỉnh Vân Nam đảm nhận vai trò chính trong khuôn khổ chiến lược thiết lập “bàn đạp Trung Quốc” tại khu vực. Thực chất của nó là ở chỗ, sau khi hình thành các hành lang giao thông và cơ sở hạ tầng khác, sẽ phát huy tác dụng khiến sự hiệp lực hội nhập của các nước Đông Nam Á xoay theo quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc. Công cụ cơ bản chính là tuyến đường sắt Côn Minh-Singapore, đã khởi đầu vào mùa thu 2011. Mặt khác, khu tự trị Choang-Quảng Tây chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược “một trục-hai cánh”. Trục là hành lang kinh tế từ thành phố Nam Ninh đến Việt Nam, Lào và Thái Lan, còn cánh là khu vực hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ và khu vực Tiểu vùng Mê Công rộng lớn.
Các nước thành viên ASEAN hẳn sẽ chào đón viễn cảnh đó nếu không có hai yếu tố. Thứ nhất, vùng địa bàn tiềm năng thịnh vượng này là Bắc Kinh muốn tạo ra cho riêng mình. Chỉ cần nhớ lại đề nghị sử dụng đồng nhân dân tệ như phương tiện thanh toán thương mại với các nước Đông Nam Á, mà Bắc Kinh tuyên bố rất thường xuyên. Như vậy sẽ mở rộng sự tham gia của Trung Quốc trong việc hoạch định và thực hiện chính sách tài chính trong khu vực. Sự tràn ngập hàng giá rẻ của Trung Quốc cũng khiến các nhà sản xuất bản địa lo sợ, và tác động từ việc chuyển nền sản xuất công nghiệp với nhiều độc hại của Trung Quốc đến Đông Nam Á sẽ là một đòn giáng hết sức nghiêm trọng vào toàn bộ bối cảnh môi trường-sinh thái trên vùng đất này.
Thứ hai, sự ràng buộc khiến kinh tế Đông Dương lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn so với những mối liên hệ trong nội khối ASEAN. Như vậy, sẽ đưa ra lời thách đố với các đề án của ASEAN về sự hội nhập của các quốc gia thành viên thành tổ hợp kinh tế thống nhất. Như nhận xét của hàng loạt nhà nghiên cứu chính trị học trong khu vực, Bắc Kinh đang ráo riết theo đuổi mục tiêu thiết lập trong khu vực Đông Nam Á một mô hình của riêng mình về hội nhập, như đối trọng với ASEAN. Xu thế này có thể sẽ còn tăng cường hơn nữa, vì rằng giai đoạn 2012-2014, chủ tọa ASEAN sẽ là Campuchia và Myanmar, - hai nước đang phát triển hợp tác với Trung Quốc chính qua những dự án cơ sở hạ tầng.
Về an ninh, điều các chuyên gia không thể không nghĩ tới là với tuyến đường sắt Xuyên Á nối Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á qua Bán đảo Đông Dương, Thái Lan và Myanmar, Trung Quốc có thể tiếp cận các nước chung biên giới trong thời gian rất ngắn từ các trung tâm kinh tế ở phía Nam, Tây Nam. Cơ sở hạ tầng là con dao hai lưỡi. Một lưỡi ăn vào kinh tế, một lưỡi ăn vào an ninh. Người Nga đã từng lên tiếng cảnh báo về cơ sở hạ tầng hiện đại với các tuyến đường sắt cao tốc đã áp sát vùng Viễn Đông Siberia tạo nên các thách thức an ninh với Nga./.
BlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Các chuyên viên xây dựng Trung Quốc đã hoàn thành lắp đặt đoạn cuối cùng của tuyến đường sắt Yuisi-Mentszy ở tỉnh Vân Nam phía Tây nam Trung Quốc. Đoạn đường này sẽ trở thành một phần của tuyến đường sắt Xuyên Á nối liền các nước ASEAN.
Công trình xây dựng tiêu tốn tới 4,5 tỷ nhân dân tệ (707 triệu USD) do con đường trải ra ở vùng địa hình phức tạp. Tại cung đường cây số 141, đường sắt chạy qua 35 hầm và 61 cầu. Phía Trung Quốc tuyên bố khoản chi phí đầu tư như vậy là xứng đáng. Theo Thứ trưởng Bộ Đường sắt Lu Dunphu, tuyến đường sắt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của vùng Tây Nam Trung Quốc, giải quyết những vấn đề kinh tế-xã hội trong khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số.
Trong khi đó, giới chuyên viên cho rằng, động lực chính của công trình chính trên là Trung Quốc mong muốn tăng cường ảnh hưởng của họ tại khu vực Đông Nam Á. Phần tham gia của Trung Quốc trong việc xây dựng mạng lưới đường sắt chỉ là một trong nhiều đề án mà Bắc Kinh thực hiện những năm gần đây trong khuôn khổ hợp tác với ASEAN. Sau khi khai thông tất cả các phần của tuyến đường sắt Xuyên Á, đi từ thủ phủ Côn Minh của tỉnh Vân Nam đến Singapore chỉ mất 10 giờ. Hiện tại đi xe lửa từ Singapore sang thủ đô Viêng Chăn của Lào mất 3 ngày đêm. Từ Viêng Chăn đến Côn Minh hiện chưa có đường sắt, nhưng không nghi ngờ gì, cung đường này rồi sẽ được lắp đặt. Tất nhiên là với sự tham gia của các nhà đầu tư Trung Quốc.
Chuyên viên của Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế (Viện Hàn lâm khoa học Nga), Giáo sư Evgeni Kanaev, nhận xét: “Trung Quốc đang tích cực bỏ vốn đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng giao thông của Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Những đề án này mang cả tính quốc tế. Tuy nhiên, điều có thể thành cái bẫy chiến lược đối với các quốc gia Đông Nam Á là chuyện Trung Quốc sẽ ràng buộc các quốc gia này, không chỉ vào nhau, mà còn vào các tỉnh Vân Nam và khu tự trị Choang-Quảng Tây của Trung Quốc".
Theo nhận định của các chuyên viên, tỉnh Vân Nam đảm nhận vai trò chính trong khuôn khổ chiến lược thiết lập “bàn đạp Trung Quốc” tại khu vực. Thực chất của nó là ở chỗ, sau khi hình thành các hành lang giao thông và cơ sở hạ tầng khác, sẽ phát huy tác dụng khiến sự hiệp lực hội nhập của các nước Đông Nam Á xoay theo quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc. Công cụ cơ bản chính là tuyến đường sắt Côn Minh-Singapore, đã khởi đầu vào mùa thu 2011. Mặt khác, khu tự trị Choang-Quảng Tây chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược “một trục-hai cánh”. Trục là hành lang kinh tế từ thành phố Nam Ninh đến Việt Nam, Lào và Thái Lan, còn cánh là khu vực hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ và khu vực Tiểu vùng Mê Công rộng lớn.
Các nước thành viên ASEAN hẳn sẽ chào đón viễn cảnh đó nếu không có hai yếu tố. Thứ nhất, vùng địa bàn tiềm năng thịnh vượng này là Bắc Kinh muốn tạo ra cho riêng mình. Chỉ cần nhớ lại đề nghị sử dụng đồng nhân dân tệ như phương tiện thanh toán thương mại với các nước Đông Nam Á, mà Bắc Kinh tuyên bố rất thường xuyên. Như vậy sẽ mở rộng sự tham gia của Trung Quốc trong việc hoạch định và thực hiện chính sách tài chính trong khu vực. Sự tràn ngập hàng giá rẻ của Trung Quốc cũng khiến các nhà sản xuất bản địa lo sợ, và tác động từ việc chuyển nền sản xuất công nghiệp với nhiều độc hại của Trung Quốc đến Đông Nam Á sẽ là một đòn giáng hết sức nghiêm trọng vào toàn bộ bối cảnh môi trường-sinh thái trên vùng đất này.
Thứ hai, sự ràng buộc khiến kinh tế Đông Dương lệ thuộc vào Trung Quốc nhiều hơn so với những mối liên hệ trong nội khối ASEAN. Như vậy, sẽ đưa ra lời thách đố với các đề án của ASEAN về sự hội nhập của các quốc gia thành viên thành tổ hợp kinh tế thống nhất. Như nhận xét của hàng loạt nhà nghiên cứu chính trị học trong khu vực, Bắc Kinh đang ráo riết theo đuổi mục tiêu thiết lập trong khu vực Đông Nam Á một mô hình của riêng mình về hội nhập, như đối trọng với ASEAN. Xu thế này có thể sẽ còn tăng cường hơn nữa, vì rằng giai đoạn 2012-2014, chủ tọa ASEAN sẽ là Campuchia và Myanmar, - hai nước đang phát triển hợp tác với Trung Quốc chính qua những dự án cơ sở hạ tầng.
Về an ninh, điều các chuyên gia không thể không nghĩ tới là với tuyến đường sắt Xuyên Á nối Trung Quốc với khu vực Đông Nam Á qua Bán đảo Đông Dương, Thái Lan và Myanmar, Trung Quốc có thể tiếp cận các nước chung biên giới trong thời gian rất ngắn từ các trung tâm kinh tế ở phía Nam, Tây Nam. Cơ sở hạ tầng là con dao hai lưỡi. Một lưỡi ăn vào kinh tế, một lưỡi ăn vào an ninh. Người Nga đã từng lên tiếng cảnh báo về cơ sở hạ tầng hiện đại với các tuyến đường sắt cao tốc đã áp sát vùng Viễn Đông Siberia tạo nên các thách thức an ninh với Nga./.
Nguồn: Tin Kinh Tế
BlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)



